Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em 1.1 Một số khái niệm - Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối với các thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [22],[23]. - Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [22],[37]. TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ.
TTDD của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn cộng đồng [22],[37]. - SDD là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các VCDD. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất tinh thần và vận động của trẻ [38]. Thời gian trong bụng mẹ và 2 năm đầu đời sau khi sinh là thời gian quan trọng quyết định mọi tiềm lực về sức khỏe, tư duy, sự phát triển não bộ của trẻ.
Phần lớn các trường hợp SDD xảy ra trước khi trẻ được 2 tuổi. Hai năm đầu sau sinh là giai đoạn cơ thể phát triển nhanh nhất, đồng thời cũng là giai đoạn có nguy cơ SDD cao nhất [21]. Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDDTE như chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ.
Theo đó, tình trạng SDDTE được đánh giá chủ yếu dựa vào ba chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 [36]. Tại Việt Nam, Viện Dinh Dưỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006. 5 Zscore được tính bằng công thức: 1. Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi Dựa vào ba chỉ tiêu trên ta đánh giá TTDD cá nhân và quần thể - Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cá nhân CN/T: Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất.
Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, WHO lấy điểm ngưỡng là dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thể thiếu cân. Phân loại TTDD bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu [38]. CC/T: Chiều cao của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, chỉ tiêu chiều cao theo tuổi dưới (-2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi [38]. CN/CC: Cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới (-2SD) theo quần thể chuẩn của WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân trở nên SDD thể gầy còm.
Khi cả hai chỉ tiêu CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì trẻ bị SDD thể phối hợp (mãn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa còi cọc [38]. Đánh giá TTDD cá nhân của trẻ dưới năm tuổi Cân nặng/ Chỉ số Z-score Cân nặng/tuổi Chiều cao/ tuổi chiều cao Trẻ SDD thể nhẹ Trẻ SDD thể thấp Trẻ SDD thể gầy <-3 SD cân, mức độ nặng còi, mức độ nặng còm, mức độ nặng Trẻ SDD thể nhẹ Trẻ SDD thể thấp Trẻ SDD thể gầy <-2 SD cân, mức độ vừa còi, mức độ vừa còm, mức độ vừa -2SD≤ Z-score ≤2SD Trẻ bình thường Trẻ bình thường Trẻ bình thường > 2SD Trẻ thừa cân Trẻ thừa cân > 3SD Trẻ béo phì Trẻ béo phì 6 - Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Bảng 1. Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi Mức độ SDD của cộng đồng theo tỷ lệ phần trăm (%) Tiêu chí Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi <20 20-29 30-39 ≥40 Nhẹ cân <10 10-19 20-29 ≥30 Gầy còm <5 5-9 10-14 ≥15 1. Các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng ở trẻ 1.
Cân nặng sơ sinh thấp Trong các nguyên nhân gây SDD ở trẻ em, chúng ta không thể không nói đến SDD bào thai (CNSS dưới 2500gr). Điều này đã được nêu lên trong nghiên cứu của 1 số tác giả nước ngoài như: R. Sarni trên 907 trẻ dưới 5 tuổi tại Brazil [47], K. Silveira và cộng sự trên 2075 trẻ từ 4 tháng đến 6 tuổi [59].
Theo nghiên cứu Lương Tuấn Dũng 2012 những trẻ đẻ ra có cân nặng dưới 2500g có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thấp còi gấp 3,34 lần và 2,3 lần [10]. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ tử vong cao hơn những trẻ có cân nặng bình thường không những trong giai đoạn sơ sinh mà trong cả những giai đoạn về sau. Trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp cao gấp 3-4 lần so với những trẻ bình thường. Ngoài ra những trẻ này còn dễ bị SDD còi cọc.
Đã có những nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân và các bệnh tim mạch, bệnh tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường…khi chúng trưởng thành. Bệnh nhiễm trùng Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh. Bệnh nhiễm trùng dẫn tới SDD, SDD dẫn tới bệnh nhiễm trùng và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009 cho thấy trẻ có TC và NKHHC nguy cơ SDD tăng gấp 4,3 và 2,1 lần so với nhóm không TC và NKHHC [31].
Một nghiên cứu của các nhà khoa học Brazil trên 119 trẻ trong 10 năm cho thấy: Trong 2 năm 7 đầu đời nếu trẻ bị 7 đợt tiêu chảy thì lúc lên 7 tuổi trẻ sẽ thấp hơn 3,6cm so với bạn cùng tuổi, cùng giới tính không nhiễm bệnh [3]. Vì vậy, cách chăm sóc cho trẻ khi bị tiêu chảy và chú ý rửa tay bằng xà phòng cho cả mẹ và trẻ để hạn chế trẻ bị nhiễm khuẩn. Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến TTDD của đứa trẻ. Nhiễm trùng dẫn đến tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn.
Nhiễm trùng làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng. Những đứa trẻ có HIV thường bị tiêu chảy, và kéo theo đó là SDD. Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hóa, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Do đó tỷ lệ SDD có dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét) [37].
Yếu tố dinh dưỡng - Dinh dưỡng bà mẹ khi có thai Trước khi có thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kì có thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi. Nhiều nghiên cứu thấy các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là TTDD kém của người mẹ trước khi có thai và chế độ không cân đối, không đủ năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vi chất và chất khoáng cần thiết như sắt, canxi… Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới CNSS. Yếu tố bệnh tật của người mẹ và yếu tố đẻ thiếu tháng cũng làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng thấp [35]. Để đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, trong thời gian có thai bà mẹ phải ăn uống nhiều hơn bình thường cả về số lượng và chất lượng bữa ăn.
Các bà mẹ cần ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm v́ mỗi loại thực phẩm có vai trò quan trọng khác nhau, tốt nhất là kết hợp được các nhóm thực phẩm từ 4 nguồn thức ăn: chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Bà 8 mẹ không ăn nhiều gia vị (ớt, hạt tiêu) và những chất kích thích (cà phê, rượu, nước chè đặc…) [45]. - Nuôi con bằng sữa mẹ Sữa mẹ không chỉ là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng tốt nhất giúp cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ mà con cung cấp 1 lượng lớn các kháng thể giúp trẻ chống đỡ bệnh tật trong những năm đầu cuộc đời đặc biệt là trong 6 tháng đầu. Chính vì thế cần thiết phải cho trẻ bú sữa mẹ càng sớm càng tốt ngay sau đẻ, không vắt bỏ sữa đầu, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ngay cả khi trẻ bị bệnh và cho trẻ bú mẹ kéo dài từ 18 đến 24 tháng và có thể lâu hơn [35].
- Ăn bổ sung Từ 6 tháng tuổi, trẻ phát triển nhanh, nhu cầu của trẻ nhiều hơn nên sữa mẹ không thể đáp ứng được đầy đủ do đó cần phải cho trẻ ăn bổ sung. Với từng lứa tuổi trẻ cần được cung cấp số bữa ăn, số lượng và thành phần khác nhau. Ăn bổ sung sớm hay muộn, thức ăn không đạt yêu cầu về cả số lượng và chất lượng đều dẫn đến tình trạng SDD của trẻ [35]. Lê Phán nghiên cứu thấy có đến 68,8% trẻ ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi bị SDD và 59,8% trẻ SDD do ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày [30].
Kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của người mẹ và các thành viên trong gia đình Trẻ dưới 2 tuổi là thời kỳ phát triển đặc biệt của trẻ với các nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm cơ thể khác hẳn trẻ lớn. Đây là lứa tuổi phát triển rất nhanh đồng thời TTDD của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự nuôi dưỡng và quá trình chăm sóc trẻ. Chế độ ăn của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của mẹ và những thành viên chăm sóc trẻ trong gia đình.