Tổng quan nghiên cứu

Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi luôn là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu và sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2015, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn quốc ở thể nhẹ cân là 14,1%, thể thấp còi là 24,6% và thể gầy còm là 6,4%. Mặc dù các chỉ số dinh dưỡng trung bình cả nước đã có những bước cải thiện rõ rệt, khoảng cách bất bình đẳng giữa các vùng miền vẫn rất sâu sắc. Số liệu thống kê năm 2014 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số lên tới 32,1%, cao gần gấp đôi so với nhóm trẻ dân tộc Kinh với 16,2%. Tương tự, tỷ lệ nhẹ cân ở khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số cũng chạm ngưỡng 21,9%, trong khi ở đô thị chỉ chiếm 10,1%.

Xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng là địa bàn nông thôn sâu với dân số 10.457 người phân bố tại 2.261 hộ gia đình. Đây là khu vực đặc thù khi đồng bào dân tộc Khmer chiếm tới 74,5% dân số, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 22,17% và cận nghèo chiếm 20,59%. Điều kiện vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế khi tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 66,4% và 3 trên 5 ấp chưa có hệ thống thu gom rác thải. Giai đoạn 6-24 tháng tuổi là thời kỳ then chốt với nhu cầu dinh dưỡng tăng vọt nhưng sữa mẹ không còn đáp ứng đủ, đồng thời trẻ phải đối mặt với "khoảng trống miễn dịch" trước các bệnh nhiễm khuẩn. Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng của học viên La Hón được triển khai nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng của 243 trẻ từ 6-24 tháng tuổi, mô tả thực hành chăm sóc của bà mẹ và xác định các yếu tố liên quan tại xã Tuân Tức năm 2017. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị phục vụ Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030, hỗ trợ ngành y tế địa phương xây dựng giải pháp can thiệp nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi từ 27,2% và nhẹ cân từ 13,2% xuống mức mục tiêu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung phân tích nguyên nhân suy dinh dưỡng đa tầng của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) kết hợp tiêu chuẩn phát triển của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2006). Khung lý thuyết phân loại các yếu tố tác động thành 4 nhóm tương hỗ:

  • Nhóm yếu tố cá nhân của trẻ (giới tính, nhóm tuổi, cân nặng sơ sinh, tiền sử bệnh tật nhiễm khuẩn, thứ tự sinh).
  • Nhóm yếu tố người mẹ và gia đình (dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con trong gia đình, điều kiện kinh tế hộ nghèo, nguồn nước và công trình vệ sinh).
  • Nhóm yếu tố thực hành chăm sóc (chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, thực hành cho trẻ ăn bổ sung, xử trí khi trẻ ốm và vệ sinh cá nhân).
  • Nhóm yếu tố tiếp cận dịch vụ y tế (tiêm chủng mở rộng, truyền thông hướng dẫn nuôi con).

Nghiên cứu cũng gắn liền với thuyết nguồn gốc phát triển của sức khỏe và bệnh tật (DOHaD) do tác giả David Barker khởi xướng, khẳng định suy dinh dưỡng trong 1000 ngày đầu đời (từ khi thụ thai đến 24 tháng tuổi) để lại hệ lụy vĩnh viễn đến sự phát triển nhận thức, tầm vóc trưởng thành và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây. Các khái niệm cốt lõi được định chuẩn chặt chẽ theo WHO: suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi < -2SD), thể thấp còi (chiều cao theo tuổi < -2SD), thể gầy còm (cân nặng theo chiều cao < -2SD), nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 6 với đầy đủ 4 nhóm thực phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, phối hợp hài hòa giữa kỹ thuật định lượng và nghiên cứu định tính tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị từ tháng 01/2017 đến tháng 07/2017:

  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Đối với hợp phần định lượng, áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ với mức ý nghĩa alpha = 0,05, độ chính xác d = 0,05 và tỷ lệ dự đoán p = 0,16, tính toán cỡ mẫu cần thiết là 238 trẻ. Nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ 243 trẻ từ 6-24 tháng tuổi và 243 bà mẹ sinh sống tại toàn bộ 5 ấp của xã. Đối với hợp phần định tính, phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để thực hiện 3 cuộc phỏng vấn sâu (lãnh đạo xã, chủ tịch hội phụ nữ, cán bộ chuyên trách dinh dưỡng trạm y tế) và 2 cuộc thảo luận nhóm (mỗi nhóm gồm 6 bà mẹ có con bị suy dinh dưỡng và không bị suy dinh dưỡng).
  • Thu thập và phân tích dữ liệu: Đánh giá nhân trắc sử dụng cân đòn lòng máng Nhơn Hòa chuyên dụng có độ chính xác 100g và thước đo chiều dài nằm bằng gỗ chuẩn quốc gia có độ chính xác 0,1cm. Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc gồm 59 tiêu chí được kiểm định thử nghiệm trước khi triển khai. Dữ liệu nhân trắc được xử lý qua phần mềm chuyên biệt WHO Anthro phiên bản 3.2, số liệu dịch tễ được làm sạch trên EpiData 3.1 và phân tích hồi quy đơn biến, đa biến qua phần mềm SPSS 23.0 để xác định các tỷ số chênh có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Lý do lựa chọn thiết kế phối hợp là nhằm đảm bảo vừa đo lường chính xác các chỉ số nhân trắc chuẩn hóa, vừa giải mã sâu sắc các rào cản tập quán văn hóa đặc thù tại địa phương. Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 167/2017/YTCC-HD3 ngày 22/3/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 243 trẻ trong độ tuổi 6-24 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu ghi nhận các chỉ số nhân trắc phản ánh mức độ suy dinh dưỡng đáng lưu tâm:

  • Thực trạng suy dinh dưỡng ở các thể: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi chiếm 27,2% (trong đó mức độ vừa là 23,9%, mức độ nặng là 3,3%), thể nhẹ cân chiếm 13,2% (mức độ vừa là 11,5%, mức độ nặng là 1,7%), thể gầy còm chiếm 7,4% (mức độ vừa là 6,6%, mức độ nặng là 0,8%) và tỷ lệ thừa cân béo phì chỉ ở mức 1,2%. Theo thang phân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của WHO, suy dinh dưỡng thể thấp còi tại địa phương nằm ở mức cao (20-29%) và thể nhẹ cân ở mức trung bình (10-19%).
  • Sự bất bình đẳng sâu sắc theo dân tộc: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dân tộc Khmer lên tới 32,0%, cao hơn gấp 2,35 lần so với trẻ em dân tộc Kinh (13,6%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ rệt (p < 0,05). Tỷ lệ nhẹ cân ở trẻ dân tộc Khmer là 14,9% so với 8,5% ở dân tộc Kinh; thể gầy còm lần lượt là 8,3% so với 5,1%.
  • Biến thiên theo nhóm tuổi và giới tính: Nhóm tuổi 12-17 tháng ghi nhận tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất ở cả 3 thể với nhẹ cân chiếm 15,7%, thấp còi chiếm 28,9% và gầy còm chiếm 9,6%. Trẻ nam có xu hướng mắc suy dinh dưỡng cao hơn trẻ nữ ở thể nhẹ cân (15,0% so với 11,2%) và thể thấp còi (27,6% so với 26,7%).
  • Khoảng trống nghiêm trọng trong thực hành nuôi dưỡng: Có tới 38,7% bà mẹ vẫn giữ tập quán vắt bỏ sữa non (tỷ lệ này ở đồng bào Khmer là 44,8% so với 22,0% ở người Kinh). Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ đạt 32,5%, trong khi 69,6% trẻ bị cai sữa sớm trước 18 tháng tuổi. Thực hành cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm 6 tháng chỉ đạt 30,9% và chỉ 34,6% trẻ được ăn đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng. Đáng chú ý, 61,3% bà mẹ thực hiện kiêng cữ sai lầm khi trẻ bị tiêu chảy, trong đó 94,6% kiêng dầu mỡ và 51,7% kiêng rau xanh.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi 27,2% tại xã Tuân Tức cao hơn mức bình quân của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (23,5%) và mức bình quân toàn quốc (24,6%). Kết quả này phản ánh tính quy luật tương đồng với các nghiên cứu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số như khảo sát của các tác giả tại Tuyên Hóa - Quảng Bình (43,7%) hay vùng Tây Nguyên (34,2% - 38,5%). Nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ vòng xoắn bệnh lý và hủ tục dinh dưỡng. Khi trẻ 6-24 tháng bước vào giai đoạn cai sữa và ăn dặm, tỷ lệ mắc bệnh trong 2 tuần trước điều tra rất cao với nhiễm khuẩn hô hấp cấp chiếm 32,9% và tiêu chảy chiếm 9,9%. Thay vì tăng cường dinh dưỡng, nhiều bà mẹ lại kiêng khem nghiêm ngặt khiến cơ thể trẻ kiệt quệ vi chất.

Phân tích hồi quy đa biến cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa suy dinh dưỡng với các yếu tố nền tảng:

  • Thể nhẹ cân có liên quan có ý nghĩa thống kê với cân nặng sơ sinh dưới 2500g (tỷ lệ 6,2%), tần suất ốm đau thường xuyên, mẹ làm nông nghiệp (44,9%), học vấn mẹ dưới cấp THCS (32,9%), gia đình từ 2 con trở lên (60,4%) và thuộc diện hộ nghèo (22,17%).
  • Thể thấp còi liên quan mật thiết với yếu tố dân tộc Khmer (OR cao hơn đáng kể), thực hành nuôi con bằng sữa mẹ không đạt và vệ sinh tay chưa chuẩn (34,6% không đạt).
  • Thể gầy còm liên quan trực tiếp đến việc mẹ không được cán bộ y tế hướng dẫn thực hành nuôi con và chăm sóc sai cách khi trẻ ốm.

Trong các báo cáo dịch tễ học dinh dưỡng, toàn bộ dữ liệu phân bố này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột ghép đa chiều biểu diễn tỷ lệ 3 thể suy dinh dưỡng theo từng phân nhóm dân tộc (Kinh - Khmer), kết hợp cùng bảng ma trận tương quan phân tích nguy cơ tương đối để làm rõ các nút thắt can thiệp trọng tâm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, 4 nhóm giải pháp can thiệp toàn diện được đề xuất nhằm cải thiện bền vững tình trạng dinh dưỡng trẻ em tại địa phương:

  1. Đổi mới và đẩy mạnh truyền thông dinh dưỡng song ngữ đặc thù: Trạm Y tế xã phối hợp cùng Hội Phụ nữ và các sư sãi, người có uy tín trong cộng đồng Khmer tổ chức các buổi truyền thông giáo dục dinh dưỡng trực quan bằng cả tiếng Việt và tiếng Khmer. Nội dung tập trung xóa bỏ hủ tục vắt bỏ sữa non, hướng dẫn thực hành "tô màu bát bột" bảo đảm đủ 4 nhóm thực phẩm và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Mục tiêu nâng tỷ lệ trẻ ăn bổ sung đúng lên trên 60% và bú mẹ hoàn toàn đạt trên 55% trong vòng 12 tháng.
  2. Thiết lập mạng lưới giám sát nhân trắc và can thiệp vi chất định kỳ: Ban Chăm sóc sức khỏe nhân dân xã chỉ đạo đội ngũ y tế thôn bản tổ chức cân, đo chiều cao định kỳ hàng quý cho 100% trẻ từ 6-24 tháng tuổi kết hợp với các đợt tiêm chủng mở rộng. Cấp phát miễn phí gói đa vi chất, viên sắt cho 100% phụ nữ mang thai thuộc diện hộ nghèo và trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi xuống dưới 20% và nhẹ cân xuống dưới 10% trong lộ trình 3 năm.
  3. Chuẩn hóa kỹ năng xử trí dinh dưỡng khi trẻ mắc bệnh: Cán bộ Trạm Y tế xã tiến hành tập huấn trực tiếp cho các bà mẹ về phác đồ chăm sóc trẻ ốm tại nhà. Hướng dẫn sử dụng dung dịch bù nước Oresol đúng nồng độ, duy trì bú mẹ tăng cường và tuyệt đối không kiêng củ dầu mỡ, tôm cá hay rau xanh khi trẻ bị tiêu chảy. Mục tiêu nâng tỷ lệ dùng Oresol đúng cách lên trên 85% và chấm dứt tình trạng kiêng ăn sai khoa học trong vòng 6 tháng.
  4. Nâng cấp hạ tầng vệ sinh môi trường và an sinh xã hội: Ủy ban nhân dân xã Tuân Tức phối hợp các ban ngành lồng ghép Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới để hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cho các hộ nghèo Khmer, nâng tỷ lệ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh từ 66,4% lên 85% và mở rộng đề án thu gom rác thải cho 3 ấp còn lại trước năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng học và Dịch tễ học: Tài liệu cung cấp một khung phương pháp luận mẫu mực về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, quy trình ứng dụng phần mềm WHO Anthro chuẩn xác và cách xử lý các biến số dịch tễ học phức tạp.
  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và chuyên trách chương trình dinh dưỡng tuyến tỉnh/huyện: Nguồn số liệu thực chứng đáng tin cậy về mô hình suy dinh dưỡng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ, làm căn cứ hoạch định chính sách phân bổ ngân sách can thiệp vi chất và giám sát dịch tễ hiệu quả.
  • Nhân viên y tế xã, y tế thôn bản và cộng tác viên dân số: Bộ cẩm nang thực hành chi tiết giúp nhận diện nhanh các lỗ hổng kiến thức, tập quán sai lầm của bà mẹ địa phương, từ đó thiết kế thông điệp tư vấn truyền thông gần gũi, thuyết phục.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phát triển quốc tế: Cung cấp dữ liệu nền (baseline data) phục vụ xây dựng các dự án tài trợ phát triển cộng đồng, nâng cao năng lực an ninh lương thực và sức khỏe bà mẹ trẻ em tại các vùng kinh tế khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em người Khmer tại xã Tuân Tức lại cao hơn nhiều so với trẻ em người Kinh? Tỷ lệ thấp còi ở trẻ em Khmer lên tới 32,0%, cao hơn đáng kể so với 13,6% ở trẻ em Kinh (p < 0,05). Nguyên nhân là do tập quán vắt bỏ sữa non ở bà mẹ Khmer chiếm tới 44,8%, tỷ lệ cai sữa sớm chiếm 74,3% và cho ăn bổ sung sai thời điểm chiếm 74,6%, kết hợp cùng tỷ lệ hộ nghèo cao (22,17%) và rào cản ngôn ngữ trong việc tiếp cận thông tin y tế.

2. Nhóm tuổi nào trong giai đoạn 6-24 tháng có nguy cơ suy dinh dưỡng cao nhất? Số liệu thực tế chỉ ra nhóm 12-17 tháng tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất ở cả 3 thể: nhẹ cân chiếm 15,7%, thấp còi chiếm 28,9% và gầy còm chiếm 9,6%. Đây là giai đoạn chuyển đổi chế độ ăn mạnh mẽ nhất, trẻ bắt đầu giảm bú mẹ nhưng bữa ăn bổ sung chưa bảo đảm đủ 4 nhóm chất, đồng thời suy giảm kháng thể tự nhiên dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và hô hấp tăng vọt.

3. Quan niệm sai lầm lớn nhất của các bà mẹ tại địa phương khi trẻ bị ốm là gì? Khảo sát cho thấy có 61,3% bà mẹ thực hiện kiêng cữ sai lầm khi trẻ bị tiêu chảy. Trong đó, có tới 94,6% bà mẹ kiêng hoàn toàn dầu mỡ và 51,7% kiêng cho trẻ ăn rau xanh. Ngoài ra, 15,6% bà mẹ giảm lượng bú và lượng thức ăn vì sợ trẻ tiêu chảy nhiều hơn, trực tiếp dẫn đến thiếu hụt năng lượng và suy dinh dưỡng cấp tính thể gầy còm.

4. Yếu tố cân nặng sơ sinh thấp ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ? Nghiên cứu ghi nhận 6,2% trẻ sinh ra có cân nặng dưới 2500g và đây là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê đối với cả thể nhẹ cân và thể thấp còi. Trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai thường có sức đề kháng kém, đường tiêu hóa non nớt, nguy cơ mắc tiêu chảy và viêm đường hô hấp cao gấp 3-4 lần trẻ bình thường, tạo thành vòng xoắn còi cọc kéo dài.

5. Luận văn đã sử dụng những phần mềm và công cụ đo lường chuyên biệt nào? Nghiên cứu sử dụng cân đòn lòng máng Nhơn Hòa (độ chính xác 100g) và thước gỗ đo chiều dài nằm chuẩn quốc gia (độ chính xác 0,1cm). Dữ liệu nhân trắc được phân tích qua phần mềm WHO Anthro phiên bản 3.2 theo chuẩn Z-score 2006. Số liệu điều tra dịch tễ được quản lý bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích hồi quy chuyên sâu trên SPSS phiên bản 23.0.

Kết luận

  • Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức đáng báo động: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức năm 2017 là 27,2%, thể nhẹ cân là 13,2% và thể gầy còm là 7,4%, trong đó suy dinh dưỡng thấp còi là vấn đề sức khỏe cộng đồng mức độ cao.
  • Tồn tại khoảng cách bất bình đẳng lớn theo dân tộc: Trẻ em dân tộc Khmer chịu thiệt thòi lớn với tỷ lệ thấp còi 32,0%, cao hơn 2,35 lần so với trẻ em dân tộc Kinh (13,6%) do rào cản kinh tế và hủ tục nuôi dưỡng.
  • Thực hành chăm sóc dinh dưỡng còn nhiều lỗ hổng: Vẫn còn 38,7% bà mẹ vắt bỏ sữa non, chỉ 32,5% trẻ được bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu, 69,6% cai sữa sớm và 61,3% bà mẹ kiêng cữ sai lầm khi trẻ mắc tiêu chảy.
  • Xác định rõ hệ thống các yếu tố nguy cơ cốt lõi: Cân nặng sơ sinh thấp dưới 2500g, tần suất mắc bệnh nhiễm khuẩn, mẹ làm nông nghiệp, học vấn mẹ thấp, hộ gia đình đông con và hoàn cảnh nghèo khó là các nguyên nhân then chốt liên quan đến suy dinh dưỡng.
  • Giải pháp can thiệp đa ngành có tính khả thi cao: Cần khẩn trương triển khai các chương trình truyền thông dinh dưỡng song ngữ Việt - Khmer, định kỳ cân đo theo dõi nhân trắc, tập huấn xử trí chăm sóc trẻ bệnh và nâng cấp hạ tầng nước sạch vệ sinh môi trường.

Luận văn thạc sĩ của tác giả La Hón là công trình nghiên cứu công phu, chuẩn mực về phương pháp dịch tễ học và nhân trắc học, mang lại đóng góp thiết thực cho kho tàng nghiên cứu y tế công cộng tuyến cơ sở. Kính mời các nhà khoa học, cán bộ quản lý y tế và các tổ chức phát triển tham khảo chi tiết toàn văn đề tài để ứng dụng hiệu quả vào công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, góp phần nâng cao thể lực và tầm vóc cho thế hệ tương lai.