Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em. Một số khái niệm: Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối với các thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội[26], [32]. Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng [15], [48]. Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất tinh thần và vận động của trẻ [11].
Thời gian trong bụng mẹ và 2 năm đầu đời sau khi sinh là thời gian quan trọng quyết định mọi tiềm lực về sức khỏe, tư duy, sự phát triển não bộ của trẻ. Phần lớn các trường hợp SDD xảy ra trước khi trẻ được 2 tuổi. Hai năm đầu sau sinh là giai đoạn cơ thể phát triển nhanh nhất, đồng thời cũng là giai đoạn có nguy cơ SDD cao nhất [31]. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi + Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cá nhân: dựa trên cân nặng và chiều cao của trẻ và so sánh với Chuẩn tăng trưởng của WHO năm 2006, người ta chia SDD thành 3 thể: - Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: CN/T đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất.
Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, WHO lấy điểm ngưỡng là dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thể thiếu cân. Phân loại TTDD bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu[11]. - Suy dinh dưỡng thể thấp còi: CC/T là chiều cao của trẻ được so sánh với chiều cao của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, chỉ tiêu chiều cao theo tuổi dưới (- 5 2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi[11]. - Suy dinh dưỡng thể gầy còm: CN/CC là cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới (-2SD) theo quần thể chuẩn của WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân trở nên SDD thể gầy còm.
Khi cả hai chỉ tiêu CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì trẻ bị SDD thể phối hợp (mãn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa còi cọc[11]. + Phân loại SDD ở cộng đồng: Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị: coi là thiếu dinh dưỡng khi cân nặng theo tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (- 2SD) so với Chuẩn tăng trưởng của WHO 2006. So với trị số tương ứng ở Chuẩn tăng trưởng chia ra các mức độ thiếu dinh dưỡng: - Thiếu dinh dưỡng vừa độ I: Cân nặng/tuổi dưới - 2SD đến - 3 SD - Thiếu dinh dưỡng nặng độ II: Cân nặng/tuổi dưới - 3SD đến - 4SD - Thiếu dinh dưỡng nặng độ III: Cân nặng/tuổi dưới - 4SD WHO còn đề nghị phối hợp cả 3 chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để phân loại thiếu dinh dưỡng cấp hay quá khứ. Đồng thời dùng 3 chỉ tiêu này để chia ra các thể lâm sàng biểu hiện thời gian bị bệnh.
Điểm ngưỡng cho các chỉ tiêu này được coi là bình thường khi X± 2SD Bảng 1. Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO Mức độ SDD theo tỷ lệ % Chỉ tiêu Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi (Stunting) <20 20-29 30-39 ≥ 40 Nhẹ cân (Underweight) <10 10-19 20-29 ≥ 30 Gày còm (Wasting) <5 5 -9 10 -14 ≥ 15 1. Phương pháp đánh giá TTDD của trẻ dưới 5 tuổi: Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng: Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá TTDD. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài.
Có thể chia ra các nhóm kích thước nhân trắc sau đây: khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng, các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng, cấu trúc về cơ 6 thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: lớp mỡ dưới da và cơ [9], [47]. Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDDTE như chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ. Theo đó, tình trạng SDDTE được đánh giá chủ yếu dựa vào ba chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006[9].
Tại Việt Nam, Viện Dinh Dưỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006. Các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng ở trẻ 1. Yếu tố từ trẻ + Cân nặng sơ sinh thấp Trong các nguyên nhân gây SDD ở trẻ em, chúng ta không thể không nói đến SDD bào thai (CNSS dưới 2500gr). Điều này đã được nêu lên trong nghiên cứu của 1 số tác giả nước ngoài như: R.Sarni trên 907 trẻ dưới 5 tuổi tại Brazil[62], K.
Silveira và cộng sự trên 2075 trẻ từ 4 tháng đến 6 tuổi[59]. Theo nghiên cứu Lương Tuấn Dũng 2012 những trẻ đẻ ra có cân nặng dưới 2500g có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thấp còi gấp 3,34 lần và 2,3 lần[36]. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ tử vong cao hơn những trẻ có cân nặng bình thường không những trong giai đoạn sơ sinh mà trong cả những giai đoạn về sau. Trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp cao gấp 3-4 lần so với những trẻ bình thường.
Ngoài ra những trẻ này còn dễ bị SDD còi cọc. Đã có những nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân và các bệnh tim mạch, bệnh tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường…khi chúng trưởng thành. + Bệnh nhiễm trùng Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh. Bệnh nhiễm trùng dẫn tới SDD, SDD dẫn tới bệnh nhiễm trùng và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp.
Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009 cho thấy trẻ có TC và NKHHC nguy cơ SDD tăng gấp 4,3 và 2,1 lần so với nhóm không TC và NKHHC[49].Một nghiên cứu của các nhà khoa học Brazil trên 119 trẻ trong 10 năm cho thấy: Trong 2 năm đầu đời nếu trẻ bị 7 đợt tiêu chảy thì lúc lên 7 7 tuổi trẻ sẽ thấp hơn 3,6 cm so với bạn cùng tuổi, cùng giới tính không nhiễm bệnh[38]. Vì vậy, cách chăm sóc cho trẻ khi bị tiêu chảy và chú ý rửa tay bằng xà phòng cho cả mẹ và trẻ để hạn chế trẻ bị nhiễm khuẩn. Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến TTDD của đứa trẻ. Nhiễm trùng dẫn đến tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn.
Nhiễm trùng làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng. Những đứa trẻ có HIV thường bị tiêu chảy và kéo theo đó là SDD. Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hóa và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Do đó tỷ lệ SDD có dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét)[10], [39].
Yếu tố từ mẹ + Dinh dưỡng bà mẹ khi mang thai Trước khi có thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ có thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi. Nhiều nghiên cứu thấy các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là TTDD kém của người mẹ trước khi có thai và chế độ không cân đối, không đủ năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vi chất và chất khoáng cần thiết như sắt, canxi… Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới CNSS. Yếu tố bệnh tật của người mẹ và yếu tố sinh thiếu tháng cũng làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng thấp[44]. Để đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, trong thời gian có thai bà mẹ phải ăn uống nhiều hơn bình thường cả về số lượng và chất lượng bữa ăn.
Các bà mẹ cần ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm và mỗi loại thực phẩm có vai trò quan trọng khác nhau, tốt nhất là kết hợp được các nhóm thực phẩm từ 4 nguồn thức ăn: chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất và chất xơ. Bà mẹ không ăn nhiều gia vị (ớt, hạt tiêu) và những chất kích thích (cà phê, rượu, nước chè đặc…)[19]. + Nuôi con bằng sữa mẹ Sữa mẹ không chỉ là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng tốt nhất giúp cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ mà con cung cấp 1 lượng lớn các kháng thể giúp trẻ chống đỡ bệnh tật trong những năm đầu cuộc đời đặc biệt là trong 6 tháng đầu. Chính vì thế cần 8 thiết phải cho trẻ bú sữa mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh, không vắt bỏ sữa đầu, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ngay cả khi trẻ bị bệnh và cho trẻ bú mẹ kéo dài từ 18 đến 24 tháng và có thể lâu hơn[44].
Nghiên cứu của Lê Thị Hợp và cộng sự cho thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ không hoàn toàn và trẻ cai sữa sớm sẽ lớn chậm hơn những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn. Từ 1-3 tháng, trẻ nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn sẽ phát triển tốt cả về cân nặng và chiều cao.