Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tầm quan trọng của vấn đề suy dinh dưỡng trẻ em Chăm lo sức khoẻ và dinh dưỡng của trẻ em là nhân tố hàng đầu trong chiến lược con người của Việt Nam. Tuy nhiên suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở nước ta. Biểu hiện suy dinh dưỡng là sự chậm lớn, chậm phát triển ở trẻ nhỏ.
Suy dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực, tinh thần ở trẻ mà còn là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy, nhiễm trùng, một số bệnh đường hô hấp, tử vong. Thực tế cho thấy có tới 1/3 đến 1/2 tử vong trẻ nhỏ là do hậu quả của suy dinh dưỡng. Ngoài ra SDD còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế một đất nước, người SDD có năng suất lao động thấp [10]. Phân loại suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi (nhất là trẻ dưới 3 tuổi) do thiếu các chất dinh dưỡng đặc biệt là chất đạm và chất béo, làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, vận động, tâm thần và trí thông minh của trẻ [10].
Để phân loại suy dinh dưỡng người ta thường dựa vào các chỉ số nhân trắc. Đó là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC). Các chỉ số này được hình thành từ các số đo cân nặng, chiều cao, và tuổi cụ thể của một trẻ và đem so sánh với quần thể tham khảo NCHS của Hoa Kỳ, là quần thể hiện đang được áp dụng nhiều nơi trên thế giới (National Center Health Stastistic). Sự suy giảm của một hay nhiều chỉ số nhân trắc trên được xem là SDD.
Tuy nhiên mỗi chỉ số có ý nghĩa khác nhau về tình trạng thiếu dinh dưỡng của trẻ [46].1 Phân loại SDD theo tác giả GOMEZ (1956): 4 Đây là phương pháp phân loại sớm nhất và hiện đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi (CN/T) và sử dụng quần thể tham khảo Harvard. CN/T phản ánh khối lượng cơ thể so với tuổi của trẻ. CN/T thấp phản ánh CC/T thấp hay CN/CC thấp hoặc cả hai. Trẻ có CN/T thấp là trẻ có SDD chung không phân biệt được SDD mãn hay cấp tính hay được gọi là trẻ nhẹ cân [46].
▪ CN/T: 80% chuẩn : trẻ bình thường. ▪ CN/T :71-80% chuẩn : SDD nhẹ. ▪ CN/T : 61-70 chuẩn : SDD vừa. ▪ CN/T :<=60% chuẩn : SDD nặng.2 Phân loại theo Waterlow (1972) Waterlow đề nghị phân loại suy dinh dưỡng theo 2 chỉ số chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) phân loại suy dinh dưỡng như sau [46].1 Chỉ số chiều cao theo tuổi: CC/T phản ánh sự tăng trưởng chiều cao và CC/T thấp chỉ ra sự thiếu sức khỏe hay thiếu dinh dưỡng kéo dài và tích lũy.
Trẻ có CC/T thấp dưới 90% chiều cao chuẩn gọi là trẻ SDD cũ hay mãn tính hoặc trẻ bị còi cọc. - CC/T : >= 90% chuẩn là trẻ bình thường. - CC/T : 86 – 90% chuẩn SDD nhẹ. - CC/T : 81 – 85% chuẩn SDD vừa.
- CC/T : <= 80% chuẩn SDD nặng.2 Chỉ số cân nặng theo chiều cao: CN/CC phản ánh thể trọng so với chiều cao. CN/CC thấp là hậu quả của cả một quá trình cấp tính và nặng dẫn đến mất cân đáng kể, thường là đói cấp tính hoặc bệnh nặng. Trẻ có CN/CC thấp dưới 80% CN/CC chuẩn gọi là trẻ SDD cấp. 5 - CN/CC : 71 – 80% chuẩn SDD nhẹ.
- CN/CC : 61 – 70% chuẩn SDD vừa. - CN/CC : <= 60% chuẩn SDD nặng.1 Phân loại theo Waterlow dựa theo 2 chỉ số CC/T và CN/CC Chỉ số CN/CC >=80% CN/CC < 80% CC/T >= 90% Trẻ bình thường SDD cấp CC/T <90% SDD mãn, di chứng SDD mãn, tiến triển 1.3 Các thể SDD theo phân loại Waterlow: - SDD cấp: trẻ được nuôi bằng chế độ ăn không đáp ứng với nhu cầu do đó CN/CC <80% gây SDD nhưng chưa ảnh hưởng tới chiều cao. Vì vậy nếu được điều chỉnh chế độ ăn kịp thời trẻ sẽ phục hồi. - SDD mãn, tiến triển: trẻ được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn không đầy đủ, kéo dài nhiều ngày, gây sụt cân và giảm chiều cao.
Đây là đứa trẻ đói thật sự. - SDD mãn, di chứng : trẻ được điều chỉnh chế độ ăn nên cân nặng đã phục hồi, nhưng chiều cao thì không phục hồi, đây là trẻ có di chứng lùn.Phân loại Suy dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5 tuổi Mức độ thiếu dinh dưỡng theo tỷ lệ % Thể loại Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi <20 (%) 20-29 (%) 30-39 (%) >40 (%) Nhẹ cân <10 (%) 10 -19 (%) 20 -29 (%) > 30 (%) Gầy còm <5 (%) 5-9 (%) 10-14 (%) > 15% Việc phân loại SDD hiện nay theo TCYTTG đề nghị thống nhất chia làm 3 loại: nhẹ, vừa và nặng. 6 Để tránh tác hại đến não và chiều cao, cần phát hiện và điều trị sớm bệnh SDD lúc mới bắt đầu. Do đó, trong chương trình Quốc gia phòng chống SDD được áp dụng ở Việt Nam từ 1983, cán bộ y tế đã hướng dẫn các bà mẹ theo dõi cân nặng của con hàng tháng và sử dụng biểu đồ tăng trưởng.
Việc phân loại SDD không những chỉ dựa vào cân nặng mà cả chiều cao để phân biệt tính chất cấp và mãn của bệnh [7].3 Phân loại suy dinh dưỡng trẻ em dựa theo Độ lệch chuẩn Hiện nay Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) khuyến nghị lấy điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (– 2 SD) so với quần thể tham khảo NCHS để coi trẻ là bị SDD, dưới 3 SD (– 3 SD) và dưới 4 SD (– 4 SD) được coi là SDD nặng và rất nặng. TCYTTG cũng khuyến nghị sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi dưới 2 SD so với quần thể tham khảo NCHS coi là thiếu dinh dưỡng [46]. CN/T từ – 2 SD trở lên : Trẻ bình thường. CN/T từ dưới – 2 SD đến – 3 SD : Thiếu dinh dưỡng vừa.
CN/T từ dưới – 3 SD đến – 4 SD :Thiếu dinh dưỡng nặng. CN/T dưới – 4 SD : Thiếu dinh dưỡng rất nặng.4 Phân loại SDD nặng theo Welcome [46].2 Phân loại SDD nặng theo Welcome Triệu chứng phù Cân nặng/ tuổi Có Không >=60% Kwashiorkor Không SDD nặng <60% Maramus- Kwashiorkor Maramus 1. Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới và trong nước 1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên Thế giới Thoát khỏi nạn đói đã từ lâu là mơ ước của loài người.
tại hội thượng đỉnh về dinh dưỡng họp tại Roma tháng 12/1992, đại diện của 159 nước đã 7 tuyên bố quyết tâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh suy dinh dưỡng. hội nghị cũng khẳng định “nạn đói và suy dinh dưỡng không thể nào chấp nhận được trong một thế giới mà ở đó đầy đủ kiến thức và của cải vật chất để thanh toán thảm họa này của loài người”. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền tại điều 25 đã nhấn mạnh. “Tất cả mọi người có quyền được sống đầy đủ, kể cả quyền được ăn uống, được chăm lo sức khỏe” Để có thể xác định các vùng có nguy cơ về SDD trên thế giới, từ đó có sự can thiệp thích hợp, năm 1995 Tổ chức y tế Thế giới (WHO) hiện có 800 triệu người bị đói kéo dài.
Theo ước tính của WHO, hiện nay có khoảng 150 – 160 trẻ em < 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân và 182 triệu trẻ em bị còi cọc [44]. SDD tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển, nhất là Châu Á và Châu Phi [27]. Dựa vào dữ liệu toàn cầu của WHO về tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi giai đoạn từ 1980 – 1992 ở 79 nước đang phát triển trên Thế giới ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh và Thái Bình Dương, cho thấy có hơn 1/3 trẻ em trên thế giới bị SDD, tình hình tại Châu Mỹ La Tinh là khả quan hơn cả với tỷ lệ SDD ở mức thấp và vừa theo phân loại của WHO, tại Châu Á hầu hết các nước đều ở mức cao và rất cao, tại Châu Phi là sự kết hợp của tình trạng một số nước đều ở mức thấp và vừa, một số nước ở cao và rất cao. Có 80% trẻ em bị SDD sống ở Châu Á, mà chủ yếu là ở Đông Nam Á, 15% ở Châu Phi, và dưới 5% ở Châu Mỹ La Tinh [28].
Có khoảng 43% trẻ em (tương đương 230 triệu) ở các nước đang phát triển bị còi cọc. Nguy cơ SDD thể nhẹ cân ở Châu Á gấp 1,5% lần so với Châu Phi và nguy cơ bị SDD ở Châu Phi cao gấp 2,3 lần so với Châu Mỹ La Tinh. Một số nước có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở giai đoạn này như Bangladesh: 65,8%; Ethiopia: 47,7%; Indonesia: 39%; Lào 36,7%; Myanma: 38%; Việt Nam: 45%; Malaysia: 29% (vũng nông thôn là 46,2%)[35]. 8 Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, tần suất trẻ có cân nặng sơ sinh thấp cao hơn 10% ở 10 nước và vùng lãnh thổ [27].
Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển gây nên 10 triệu ca tử vong mỗi năm[16]. Theo UNICEF, năm 1994 tỉ lệ SDD trẻ em tại các nước đang phát triển là 36%, ở các nước Đông Nam Á (bao gồm cả Việt Nam) là 26% [25]. Singapore 14% Trung Quốc 16% Thái Lan 19% Miến Điện 39% Phillipin 28% Lào 40% Indonesia 34% Campuchia 52% Báo cáo của tổng giám đốc WHO năm 2000 cho biết có đến khoảng 150 triệu bị SDD do thiếu năng lượng, 182 triệu bị SDD thể còm [38]. Trong số này, châu Á chiếm tỉ cao nhất 70%, châu Phi 26% và châu Mỹ La Tinh là 4%.
SDD còn góp phần làm 49% trong tổng số 10,7 triệu trẻ chết trước khi đến tuổi nhập học[38]. Như vậy, SDD luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nhất là các nước đang phát triển, tỉ lệ này thay đổi tùy theo điều kiện kinh tế của từng nước. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam Ở Việt Nam năm 1985 tỷ lệ SDD của cả nước là 51,5%, đến năm 1995 tỷ lệ này là 44,9%, mỗi năm giảm trung bình 0,66%. Năm 1999 giảm còn 36,7%, trung bình mỗi năm giảm 2% là tốc độ được quốc tế công nhận giảm nhanh [6].
Năm 2000 theo số liệu điều tra của MICS tổng cục thống kê tỷ lệ trên còn 391,%. Có thể nói thành tựu giảm nhanh tỷ lệ SDD ở trẻ em, trong 5 năm qua rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên tỷ lệ SDD ở nước ta vẫn ở mức rất cao 9 so với mức quy định của tổ chức y tế thế giới.