Chương 1: Giới thiệu Trình bày tổng quan về cơ sở hình thành đề tài nghiên cứu, xác định câu hỏi, mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của luận văn nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương này nêu lên cơ sở lý thuyết cho việc phân tích và kiểm tra mô hình thực hiện về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ; trình bày một số nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập số liệu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về khu vực nghiên cứu để người đọc có cái nhìn khái quát nhất về cuộc sống của đồng bào tại thời điểm nghiên cứu của tác giả; kết quả của mô hình trên cơ sở nguồn dữ liệu đã thu thập và mô hình đề xuất; phân tích các kết quả từ phần mềm đã sử dụng. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này, tác giả sẽ kết luận lại những nội dung đã được đặt ra trong các chương trước; đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao thu nhập của hộ đồng bào Chăm trong thời gian tới.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘ GIA ĐÌNH VÀ THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH Chương này sẽ trình bày khái niệm về hộ gia đình, thu nhập, thu nhập hộ gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình; tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Hộ gia đình Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung. Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai (Haviland, 2003).
Theo Steinemann et al (2005), hộ gia đình là một đơn vị tiêu dùng (và sản xuất) cơ bản trong nền kinh tế; bao gồm một hay nhiều cá nhân. Các hộ gia đình ra quyết định về việc lao động, chi tiêu và sử dụng tài sản cá nhân. Những quyết định này có thể dựa trên một số mục đích, nhưng nói chung, kinh tế học giả định rằng người ta sẽ cố gắng tối đa hóa sự thỏa mãn của họ. Cho dù các hộ gia đình khác nhau và các cá nhân trong hộ cũng khác nhau, nhưng mỗi người phải đưa ra những quyết định cơ bản về cách thức làm thế nào để kiếm thêm thu nhập và chi tiêu thu nhập của họ cho hàng hóa dịch vụ.
Người ta nhận thu nhập từ lao động, từ sinh lợi đầu tư, quà tặng, tiết kiệm và các chương trình chuyển giao. Các hộ gia đình không chỉ là người tiêu dùng mà còn là người sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo Leone và Randall (2011), hộ gia đình là một người hoặc một nhóm người có quan hệ huyết thống, hoặc không có quan hệ huyết thống sống chung với nhau và cùng chia sẻ một nguồn thức ăn chung. Beaman & Dillon (2012) đã đưa ra 4 khái niệm về hộ gia đình.
Khái niệm thứ nhất định nghĩa rằng hộ gia đình là những người chung sống dưới một mái nhà. 9 Khái niệm thứ hai bao gồm khái niệm thứ nhất và thêm tiêu chí là các thành viên đó phải thường ăn chung với nhau. Khái niệm thứ ba bao gồm khái niệm thứ nhất và các thành viên đó phải cùng tham gia vào hoạt động tạo thu nhập như làm nông nghiệp hoặc một hoạt động có thu chung với nhau. Khái niệm thứ tư kết hợp cả ba định nghĩa trên lại với nhau.
Tổ chức Liên hợp quốc (2016) lại phân loại hộ gia đình dựa trên chí số người trong hộ gia đình, bao gồm: Hộ gia đình một người: được định nghĩa là một sự sắp xếp trong đó một người làm cho việc cung cấp cho thực phẩm hoặc các yếu tố cần thiết của riêng mình để sống mà không cần kết hợp với bất kỳ người nào khác để tạo thành một phần của một hộ gia đình nhiều người. Hộ gia đình nhiều người: là một nhóm của hai hay nhiều người cùng chung sống, cùng lập dự phòng chung cho thực phẩm hoặc yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống. Những người trong nhóm có thể có thu nhập của họ và có một ngân sách chung; họ có thể có chung huyết thống hoặc không. Sự sắp xếp này minh họa cho khái niệm nhà cửa.
Trong một định nghĩa thường được sử dụng ở nhiều quốc gia khuôn mẫu cho các khái niệm như vậy được gọi là hộ gia đình, một hộ gia đình bao gồm tất cả những người sống chung với nhau trong một đơn vị nhà ở. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm hộ gia đình được hiểu là một nhóm của hai hay nhiều người cùng chung sống, có thể có cùng huyết thống hoặc không. Những người này có thể có thu nhập riêng của họ hoặc được người khác sống trong gia đình nuôi sống, cùng sử dụng một nguồn thu nhập và thực phẩm chung. Thu nhập hộ gia đình Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Theo Babatude và Qaim (2009), thu nhập hộ gia đình bao gồm tất cả thu nhập của mỗi cá nhân trong gia đình từ những hoạt động tạo thu nhập khác nhau như: thu nhập từ cây trồng, thu nhập từ chăn nuôi, thu nhập từ việc làm thuê cho các hộ gia 10 đình nông nghiệp khác, thu nhập phi nông nghiệp, cả ở khu vực chính thức và phi chính thức, thu nhập từ việc kinh doanh riêng, thu nhập từ họ hàng và bạn bè không sống cùng hộ gia đình và thu nhập khác, thường là lãi tiền gửi và tiền trợ cấp. Theo Tổng cục Thống kê (2010), thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, thu nhập hộ gia đình bao gồm: Tiền lương, tiền công; tiền thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp; tiền thu khác từ các hoạt động được cho, tặng, biếu, thừa kế và các khoản thu khác.
Phân tích chi phí và thu nhập Phân tích chi phí và thu nhập là một trong những cộng cụ thông dụng nhằm phân tích hiệu quả sản xuất trên cơ sở kinh tế nông hộ (Trần Thị Út, 2003): Trong đó: TC = Tổng phí TR = Tổng thu Pi = Giá của loại nhập lượng i Pj = Giá của sản phẩm j Yj = Sản lượng Thu nhập gia đình = Tổng thu – Chi phí mua ngoài Chi phí mua ngoài là chi phí đầu vào mà hộ phải mua hay thuê trong quá trình 11 sản xuất. Cơ sở lý luận về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Theo Scoones (1998), những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội. Vốn tự nhiên là đất đai, không khí, nước… là cơ sở cho tất cả các hoạt động kinh tế của con người. Vốn tài chính bao gồm các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của một hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiết kiệm tín dụng cho đầu tư vào các hoạt động tạo thu nhập.
Vốn con người mô tả các yếu tố như giáo dục, lực lượng lao động và giới tính. Nguồn vốn này được sử dụng khai thác trong quá trình người lao động tham gia vào quá trình sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động tham giavào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc củahọ. Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau: sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau. Theo Reardon và cộng sự (1992), đa dạng hóa sản xuất kinh doanh ở vùng nông thôn có tác động tăng thu nhập cho nông hộ.
Bên cạnh đó, Kartunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc đều có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ. Trong bài nghiên cứu này, tác giả xin đề cập đến những yếu tố như sau: 2. Nghề nghiệp của chủ hộ Người lao động trong khu vực nông nghiệp thường có thu nhập thấp hơn người lao động trong khu vực phi nông nghiệp do người lao động trong khu vực nông nghiệp thường phải chịu nhiều rủi ro như thiên tai, dịch bệnh hạ giá cả đầu vào, đầu ra không ổn định. Nguyễn Sinh Công (2004), trong nghiên cứu tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã kết luận rằng: Với giả định các yếu tố khác không thay đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 16,35%.
12 Theo Nguyễn Thị Yến Mai (2011), trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tình trạng nghèo ở các xã biên giới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cũng đã kết luận rằng: Tỷ lệ nghèo của nhóm hộ có chủ hộ làm phi nông nghiệp chỉ có 32,39%, trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo của nhóm hộ làm nghề nông nghiệp chiếm đến 54,96%. Điều này cho thấy, thu nhập của nhóm hộ có chủ hộ làm nghề nông nghiệp còn thấp so với nhóm hộ làm nghề phi nông nghiệp. Qua đó cho thấy, nghề nghiệp của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình. Những chủ hộ làm việc trong khu vực nông nghiệp có thu nhập thấp hơn khu vực khác.
Vốn của hộ Theo Vũ Đình Thắng (2006), vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Đó là số tiền dùng để mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc, …).