ĐẶT VẤN ĐỀ Theo số liệu của UNICEF có gần một nửa số ca tử vong ở trẻ em dƣới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dƣỡng (SDD) và ƣớc tính khoảng 3 triệu trẻ em bị tử vong trong một năm (1). Suy dinh dƣỡng ở trẻ em làm ảnh hƣởng đến nòi giống và sự phát triển về thể chất, tâm thần của trẻ. Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi (2). Tại Việt Nam, theo báo cáo của Viện Dinh dƣỡng trong 8 năm qua (từ 2008 đến năm 2017): tỷ lệ bị SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dƣới 5 tuổi đã giảm từ 19,9% xuống còn 13,4%.
Tỷ lệ thấp còi cũng giảm từ 32,6% xuống còn 23,8%. Tuy nhiên, với tỷ lệ này Việt Nam vẫn là nƣớc có tỷ lệ SDD dƣới 5 tuổi cao trên thế giới, tỷ lệ này cao ở nông thôn, miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống (21). Đặc biệt ở giai đoạn trẻ từ 0-24 tháng tuổi là giai đoạn bú mẹ và ăn dặm. Nếu không đƣợc nuôi dƣỡng hợp lý, đúng cách thì sẽ dẫn đến rối loạn về dinh dƣỡng sẽ ảnh hƣởng đến sức khỏe của trẻ trong những năm tiếp theo.
Vì vậy để giảm bền vững tỷ lệ SDD trẻ em, việc nâng cao kiến thức, thực hành về chăm sóc dinh dƣỡng của bà mẹ, biết cách nuôi con phát triển tốt, tránh đƣợc bệnh tật. Là một trong các nội dung hoạt động của Chiến lƣợc Quốc gia về dinh dƣỡng giai đoạn 2011 - 2020 (2). Đăk Glong là huyện khó khăn của tỉnh Đắk Nông, cách thị xã Gia Nghĩa 25 km về phía Đông Nam, có diện tích tự nhiên khoảng 1.442,28 km², giao thông đi lại không thuận tiện. Huyện có 7 xã/thị trấn, 63 thôn/buôn, với tổng số dân 72.563 và 16 thành phần dân tộc (trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 60,38 %).
Số hộ nghèo chiếm 65,94%. Ngƣời dân chủ yếu sống bằng nghề nông, thƣờng xuyên lên nƣơng rẫy, có thói quen hút thuốc lá, uống rƣợu bia, ý thức chăm sóc sức khoẻ trẻ em còn hạn chế nhƣ cho trẻ ăn bổ sung sớm để cho trẻ cứng cáp, cho ăn chƣa đúng cách, địu con đi nƣơng rẫy cùng, giữa nắng mƣa và chăm sóc trẻ chƣa tốt (3). Trong khi đó, giai đoạn trẻ 6-24 tháng tuổi là rất quan trọng nhu cầu dinh dƣỡng rất cao, sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý rất quan trọng, là thời kỳ thích nghi với môi trƣờng và nhạy cảm với bệnh tật sẽ ảnh hƣởng đến sức khỏe của trẻ (4). Đăk Glong là một huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ–CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 nên các hoạt động y tế đối với ngƣời nghèo đƣợc quan tâm.
2 Trong đó, có chƣơng trình phòng, chống suy dinh dƣỡng đã đƣợc triển khai thực hiện với nhiều hoạt động nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dƣỡng ở trẻ nhƣ cấp sản phẩm dinh dƣỡng để điều trị cho trẻ bị SDD cấp tính, thực hành đánh giá cân trẻ thƣờng xuyên, cho trẻ uống Vitamin A,. Tuy nhiên, kết quả công tác phòng chống SDD cho trẻ em dƣới 5 tuổi vẫn còn hạn chế, tỷ lệ SDD thấp còi là khá cao chiếm 38%, cao hơn mức trung bình của tỉnh và của quốc gia (3). Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do xuất phát từ điều kiện kinh tế khó khăn của ngƣời dân, ngƣời dân chƣa biết chăm sóc trẻ, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của ngƣời dân,. Để xác định tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi và tìm hiểu nguyên nhân, phân tích các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dƣỡng thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi tại một số xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông năm 2020 nhƣ thế nào?.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi huyện Đăk Glong năm 2020 và một số yếu tố liên quan”. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà quản lý có giải pháp can thiệp phù hợp để giảm tỷ lệ SDD thấp còi trên địa bàn huyện Đắk Glong. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi tại một số xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông năm 2020.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dƣỡng thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi tại một số xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông năm 2020. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chung về suy dinh dƣỡng 1. Dinh dưỡng Dinh dƣỡng là tình trạng cơ thể đƣợc cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dƣỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trƣởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội (5).
Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dƣỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hoá sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cơ thể (6). Tình trạng dinh dƣỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố nhƣ: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trƣờng, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ. Tình trạng dinh dƣỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dƣỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dƣỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn trẻ ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dƣỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dƣỡng (6).
Suy dinh dưỡng Suy dinh dƣỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lƣợng và các vi chất dinh dƣỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dƣới 24 tháng tuổi. Đây là tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân chính do chế độ ăn của trẻ thiếu chất đạm (protein) và năng lƣợng, cũng nhƣ các vi chất dinh dƣỡng. Trẻ bị suy dinh dƣỡng nếu không can thiệp sẽ có nhiều ảnh hƣởng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần vận động, làm trẻ dễ mắc bệnh do khả năng miễn dịch kém (7).
Khái niệm suy dinh dƣỡng thấp còi trẻ em dƣới năm tuổi: Điểm ngƣỡng Z- score dƣới trừ 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) theo chuẩn tăng trƣởng của WHO 2006 là suy dinh dƣỡng. Nếu chiều cao/chiều dài nằm theo tuổi <-2SD là suy dinh dƣỡng thấp còi (stunting) (7). Cách đánh giá suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi: Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDD trẻ em nhƣ chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp 5 gấp cơ tam đầu, vòng đầu. Tuy nhiên, phổ biến nhất là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ.
Tình trạng SDD trẻ em đƣợc đánh giá dựa vào 3 chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trƣởng của WHO 2006 (5). Tại Việt Nam, Viện Dinh dƣỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006 (7). Zscore đƣợc tính bằng công thức: Zscore = Kích thước đo được−trị số trung bình của quần thể chuẩn Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn Bảng 1. Đánh giá chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi (5) Chỉ số Z-score Đánh giá <-3SD Suy dinh dƣỡng thể thấp còi mức độ nặng <-2SD Suy dinh dƣỡng thể thấp còi -2 SD ≤ Z-score ≤ 2 SD Bình thƣờng 1.
Phân loại suy dinh dưỡng - Trên cộng đồng chia ra làm 3 thể: Thể thấp còi: Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh sự chậm tăng trƣởng do điều kiện sức khỏe và dinh dƣỡng không hợp lý. Đây là một tiêu chí tốt để đánh giá sự cải thiện xã hội (8). Thể nhẹ cân: Nhẹ cân chỉ là một đặc tính của thiếu dinh dƣỡng nhƣng không cho biết đặc điểm cụ thể đó là loại SDD vừa mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu. Tuy nhiên theo dõi cân nặng là việc tƣơng đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả do đó tỷ lệ thiếu cân nặng theo tuổi vẫn đƣợc thông dụng nhƣ là tỷ lệ chung của SDD (8).
Thể gầy còm: Cân nặng theo chiều cao thấp thƣờng phản ánh một tình trạng thiếu ăn gần đây cũng có thể xa hơn. Thƣờng thƣờng tỷ lệ này là cao nhất ở lứa tuổi 2 tuổi (8). - Trên lâm sàng: 6 Suy dinh dƣỡng thể teo đét (thể Marasmus, thể xác ƣớp): Đây là hậu quả của chế dộ ăn thiếu năng lƣợng và protein, hoặc do cai sữa quá sớm, hoặc cho trẻ ăn bổ sung không hợp lý (8). Suy dinh dƣỡng thể phù (thể Kwashiorkor): Ít gặp hơn thƣơng là do chế độ ăn quá nghèo protit nhƣng tạm đủ các chất gluxit (8).
Thể Marasmus - Kwashiorkor (thể phối hợp hay trung gian): Phối hợp cả hai bệnh cảnh kể trên. Trẻ thƣờng biểu hiện gầy đét nhƣng có phù (8). Thực trạng suy dinh dƣỡng thấp còi trên thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới Trong vòng 15 năm trở lại đây tỷ lệ SDD trên thế giới có xu hƣớng giảm.
Theo thống kê của Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc UNICEF, WHO và ngân hàng thế giới năm 2011 về SDDTE dƣới 5 tuổi cho thấy châu á là châu lục có tỷ lệ SDD cao nhất trung bình tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 19,3%, SDD thể gầy còm là 10,1%. Riêng tỷ lệ SDD thấp còi thì châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 35,6%, kế tiếp là châu Á là 26,8%. Hai châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu. Nguyên nhân của tình trạng thấp còi đƣợc cho là liên quan đến kinh tế, xã hội và chăm sóc y tế.
Đặc biệt ở các nƣớc châu Phi kinh tế khó khăn, ngƣời dân thƣờng xuyên sống trong cảnh thiếu ăn, hệ thống y tế kém phát triển cũng là nguyên nhân của tình trạng SDD thấp còi ở châu lục này (9). Theo kết quả nghiên cứu trẻ em dƣới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) trẻ bị SDD thể nhẹ cân, 171 triệu (27%) trẻ bị SDD thấp còi và hơn 60 triệu (10%) trẻ SDD thể thấp còi. Các khu vực Nam Á cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDDTE cao nhất. Những quốc gia có tỷ lệ SDDTE cao và rất cao ở cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tƣơng ứng nhƣ Timor Leste năm 2010 là 44,7%, 58,1%, 18,6%.
Theo báo cáo của UNICEF tháng 7/2013, toàn cầu có 26% khoảng 165 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi.