CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Định nghĩa Thalassemia là một hội chứng bệnh hemoglobin di truyền, do thiếu hụt tổng hợp một hay nhiều chuỗi polypeptid trong globin của hemoglobin [17]. Từ “Thalassemia” là một từ gốc Hy Lạp, do bệnh được phát hiện đầu tiên ở Địa Trung Hải, có nghĩa là bệnh máu vùng biển. Tùy theo sự thiếu hụt tổng hợp ở chuỗi alpha hay beta mà gọi là α-thal hay β-thal [21].
Phân tử Hb là một phân tử kép, gồm hai thành phần: HEM và globin. Dịch tễ học Thalassemia là một trong số các bệnh Hb di truyền phổ biến nhất trên thế giới, bệnh liên quan chặt chẽ với nguồn gốc dân tộc, phân bố khắp toàn cầu song có tính địa dư rõ rệt [1]. Số người mang gen bệnh rất lớn [9]. Theo ước tính của WHO năm 2009, ước tính có khoảng 7% dân, số tương đương 474 triệu người mang gen bệnh Hb di truyền, trong đó bệnh nhi mắc α-thal và β-thal cao, chiếm 5,2% dân số [53].
Cũng theo ước tính của tổ chức này, hàng năm có từ 300.000 trẻ sinh ra bị thể nặng đồng hợp tử hay dị hợp tử kép [53]. Các số liệu nghiên cứu cho thấy tần số mang gen bệnh ở một số nước khá cao: mang gen β-thal ở Cyprus là 15 - 17% dân số, ở Hy Lạp khoảng 6 - 19%, ở Thái Lan 3 - 9% [67]. Ngoài ra, ở Việt Nam và một số các nước Đông Nam Á khác, là nơi có tỷ lệ cao lưu hành đồng thời β-thal và bệnh HbE: tần số mang gen ở Thái Lan là 10 - 53%; Lào và Campuchia khoảng 30 - 40% [11], [22]. Tại Việt Nam, tỷ lệ người mang gen bệnh khoảng 5,3 triệu người, trong đó, mang gen α-thal là 1,7 - 25%, trung bình là 2,1% [6].
β-thal và β-thal/HbE chiếm tỷ lệ cao hơn, khác nhau giữa các dân tộc: dân tộc kinh là 2 - 4%, dân tộc Mường là 25%, dân tộc Tày là 12%, Sán Dìu khoảng 10 - 12% [15]; ở miền Nam, tỷ lệ người mang gen HbE chiếm tỷ lệ cao như dân tộc Ê-đê là 40% [1]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng Thalassemia là một hội chứng với bệnh cảnh lâm sàng rất phong phú bao gồm nhiều thể bệnh khác nhau, đặc trưng là biểu hiện thiếu máu tan máu mạn tính, mức độ từ nhẹ - không có triệu chứng đến nặng phải truyền máu thường xuyên… Cơ chế hình thành các biểu hiện lâm sàng: Khi gen globin bị tổn thương, chuỗi globin không được tổng hợp hoặc là giảm tổng hợp, nên thiếu Hb, gây thiếu máu. Nhưng căn nguyên chính là thừa chuỗi tương ứng. Các chuỗi thừa này sẽ tạo nên thể vùi trên màng hồng cầu, làm thay đổi tính thấm, tính mềm dẻo của màng hồng cầu và hồng cầu dễ vỡ, gây ra các triệu chứng thiếu máu tan máu mạn tính và các biến chứng kèm theo [1], [21].
α-thalassemia Biểu hiện của α-thal rất thay đổi, tuỳ thuộc vào việc mất một hay nhiều gen α mà gây ra những bệnh cảnh lâm sàng khác nhau [4], [57]. α-thalassemia thể nặng - phù bào thai Khi cả 4 gen α mất chức năng hoàn toàn, bệnh xảy ra rất nặng, bệnh Hb Bart’s. Do Hb Bart’s có ái lực cao với oxygen nên không thể nhả oxy cho tổ chức, do vậy thiếu oxy và tử vong [63]. - Lâm sàng: Tử vong trong bào thai hoặc ngay sau khi sinh, phù bào thai, nước ối vàng.
- Cận lâm sàng: Thiếu máu + Kết quả điện di Hb: Hb Bart’s 80 - 100% lúc sinh, có ít HbH, Hb Portland, không có HbA1 [1]. Bệnh HbH Trong thể bệnh HbH có mất chức năng của 3 trong số 4 gen α, chỉ còn 1 gen α hoạt động [68]. - Lâm sàng: Thiếu máu mức độ vừa và nhẹ đôi khi mức độ nặng, vàng da, lách to, tan máu từng đợt, ít phụ thuộc vào truyền máu, có thể phát hiện ở 5 tuổi trưởng thành. - Cận lâm sàng: Hb giảm 80-90g/l, MCV giảm 60-70fl, RDW 20-30% tăng, hồng cầu non, hồng cầu lưới tăng cao 10-20%, hồng cầu hình bia.
+ Kết quả điện di Hb: HbH tăng 1-20%, HbA giảm nhẹ, HbCS + Kiểu gen --/-α Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Dương Bá Trực, bệnh HbH đứng hàng thứ ba trong các loại bệnh Hb gây thiếu máu tan máu nặng ở trẻ em, với đặc điểm thiếu máu mức độ vừa, hồng cầu nhỏ, nhược sắc, hồng cầu mảnh, có thể vùi trong hồng cầu. Điện di Hb có HbA, HbH, khi mới sinh có Hb Bart’s [29]. α-thalassemia thể nhẹ (α1-thalassemia) Do 2 trong số 4 gen α bị mất chức năng. - Lâm sàng: Thường có thiếu máu nhẹ, hồng cầu nhỏ nhược sắc, biến đổi hình thái nhẹ.
- Cận lâm sàng: Hb giảm, MCV giảm, RDW tăng nhẹ + Kết quả điện di Hb: Hb Bart’s 5 - 10% lúc sinh, có thể 1 - 2% Hb Constan Spring, còn lại là HbA1 [45]. α-thalassemia thể ẩn (α2-thalassemia) Mất một gen α-globin, chuỗi α-globin thiếu hụt ít, nên chức năng Hb gần như bình thường. Thể này chỉ được chẩn đoán khi có con mắc bệnh HbH hoặc α-thal thể nhẹ [63]. - Lâm sàng: Không có biểu hiện - Cận lâm sàng: Hb và hồng cầu lưới trong giới hạn bình thường, MCV giảm nhẹ.
+ Kết quả điện di Hb: Hb Bart’s 1 - 2% lúc sinh, có thể có 1 - 2% Hb Constant Spring (CS), chủ yếu là HbA1 [63]. β-thalassemia Tuỳ thuộc vào mức độ tổn thương gen β và tổ hợp gen mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh, bệnh β-thal khá phổ biến, là nguyên nhân quan trọng gây thiếu máu tan máu ở trẻ enm bệnh phân bố ở nhiều địa phương, khá phổ biến ở dân tộc ít người. Trong nghiên cứu này, thể đồng hợp tử chiếm tỉ lệ 1/3 số bệnh nhi β-thal vào viện và gen β0-thal phổ biến hơn gen β+-thal[17].
β-thalassemia thể nặng - Lâm sàng biểu hiện rất sớm, ngay từ năm đầu sau sinh [16], [38]: + Thiếu máu: Thường xuất hiện vào cuối năm đầu. Bệnh nhi thường thích nghi với tình trạng thiếu máu, kể cả thiếu máu nặng. + Vàng da: Xuất hiện từ từ. Nước tiểu vàng đậm.
Có thể da có màu vàng xỉn do kết hợp với tình trạng ứ sắt. + Lách to: Lách to thường xuất hiện sớm, lách to vừa đến rất to, tuổi càng lớn lách càng to, có khi phải mổ cắt lách để tránh tai biến vỡ lách. + Biến dạng và loãng xương: Có bộ mặt thalassemia (trán dô, sống mũi tẹt, hàm vẩu). Các xương dài giòn và dễ gãy.
+ Biểu hiện khác do nhiễm sắt: Chậm phát triển thể chất, nhiễm sắt ở gan - tim - da, khối sinh hồng cầu ngoài tủy giống như khối u. Có các vết loét khó lành ở tay, chân. - Cận lâm sàng: Hb giảm 30 - 90 g/l, MCV giảm, RDW tăng 19 - 30%, biến đổi hình dáng hồng cầu, hồng cầu non, hồng cầu lưới tăng nhẹ đến vừa. Ferritin thường tăng.
+ Kết quả điện di Hb: HbA giảm hoặc không có, HbA2 tăng (8 - 9%), HbF tăng cao (20 - 99%). β-thalassemia thể trung gian 7 Xảy ra ở thể dị hợp tử kép hoặc đồng hợp tử, biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn thể nặng và nặng hơn thể nhẹ. - Lâm sàng: Biểu hiện muộn hơn, thiếu máu nhẹ, lách to, vàng da mức độ nhẹ, các biểu hiện biến dạng xương và chậm phát triển ít và xuất hiện muộn hơn [31]. - Cận lâm sàng: Huyết học: Hb giảm, MCV giảm, RDW tăng nhẹ.
Ferritin bình thường hoặc tăng [17]. + Kết quả điện di Hb: HbA giảm, HbA 2 tăng có thể đến 10%, HbF tăng có thể đến 98 - 100% [17]. β-Thalassemia thể nhẹ - Lâm sàng: Đôi khi có da xanh, mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đa số các trường hợp không có biểu hiện lâm sàng [19]. - Cận lâm sàng: Hb giảm hoặc bình thường, MCV giảm 60-78fl, RDW tăng 15-17%.
+ Kết quả điện di Hb: HbA2 tăng từ 3,5 - 9%, A1 giảm nhẹ, HbF bình thường hoặc tăng nhẹ từ 1 - 5%, HbE 15 - 30%[1]. β-thalassemia thể ẩn - Lâm sàng: Thường không có biểu hiện lâm sàng nên khó phát hiện, song vẫn di truyền cho thế hệ sau. - Cận lâm sàng: Không có biểu hiện gì đặc biệt. + Kết quả điện di Hb bình thường.
Phát hiện bằng phân tích ADN hoặc khi nghiên cứu phả hệ những bệnh nhi β-thal [18], [28]. β-thalassemia/HbE Khi HbE kết hợp với β-thal tạo thành thể dị hợp tử kép, khoảng 50% bệnh nhi có biểu hiện giống β-thal thể nặng, số còn lại có biểu hiện tương tự 8 thể trung gian. - Lâm sàng: Thời gian khởi phát và mức độ nặng của thiếu máu tiến triển dần theo thời gian. Bệnh thường biểu hiện khi trẻ khoảng 5 tuổi.
Thể nặng thường có lách to, chậm lớn, chậm phát triển. Biểu hiện nhiễm sắt như xạm da, gan to… [18], [38]. - Cận lâm sàng: Hb giảm 30 - 90 g/l, MCV giảm, RDW tăng 19 - 30%, biến đổi hình dáng hồng cầu, hồng cầu non, hồng cầu lưới tăng. Ferritin thường tăng.
+ Kết quả điện di Hb: HbA1 giảm nặng hoặc không có, HbF tăng, HbE tăng cao. Ở Việt Nam, có khoảng 2/3 các bệnh nhi β-thal có phối hợp với bệnh lý HbE [22]. Đột biến gen và các phương pháp phát hiện đột biến gen 1. Đột biến gen 1.
α-thalassemia Mỗi nhiễm sắc thể 16 có 2 gen chi phối tổng hợp α-globin. Như vậy cặp nhiễm sắc thể số 16 có 4 alen chi phối tổng hợp α-globin. Các thể lâm sàng của -thal phụ thuộc vào tổn thương 1, 2, 3 hoặc 4 gen -globin tương ứng. Đột biến -thal gồm xóa đoạn và không xóa đoạn.
Có khoảng 35 đột biến xóa đoạn và hơn 40 đột biến không xóa đoạn ảnh hưởng đến 2 gen α-globin trên nhiễm sắc thể thứ 16. Các chuỗi α-thal có 141 acid amin [1]. Các gen chi phối sự hình thành chuỗi zeta (), alpha (α) nằm trên nhiễm sắc thể số 16 [37]. Tùy theo giai đoạn phát triển cá thể mà các chuỗi globin được tổng hợp khác nhau.
Các dạng nặng của bệnh α-thal, bệnh hemoglobin H và bệnh hemoglobin Bart’s thai chết lưu đang là một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng quan trọng ở Đông Nam Á [35]. Tuy nhiên, thông tin về sự phổ biến, đa dạng di truyền 9 và gánh nặng sức khỏe của bệnh α-thal trong khu vực vẫn còn hạn chế [63], [53].