Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Định nghĩa và phân loại SDD Tình trạng dinh dưỡng: Tình trạng dinh dưỡng(TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.
TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng[15]. Phân loại suy dinh dưỡng SDD là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, thiếu vi chất dinh dưỡng kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn Phân loại SDD: dựa trên cân nặng, chiều cao của trẻ và so sánh với Chuẩn tăng trưởng của WHO năm 2016, người ta chia SDD thành 3 thể: - SDD thể nhẹ cân: cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới (sử dụng điểm ngưỡng cân nặng theo tuổi dưới-2SD). - SDD thể thấp còi: là giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện của SDD mạn tính, có thể bắt đầu sớm từ SDD sớm từ bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng. Được xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu của trẻ cùng tuổi và giới dưới - 2SD.
- SDD thể gầy còm: là hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi, được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện trong thời gian ngắn. Được xác định khi cân nặng theo chiều cao dưới-2SD. Một số phương pháp đánh giá TTDD của trẻ em dưới 5 tuổi a) Phân loại dựa vào phần trăm so với trung vị[15] Để tính toán theo cách này người ta coi giá trị trung vị là 100% rồi tính giá trị đo được trên đối tượng đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị. 5 b) Phân loại theo Gomez Năm 1956, Gomez – một thầy thuốc Mexico, đã dựa vào cân nặng theo tuổi để xếp loại mức độ suy dinh dưỡng trẻ em trong bệnh viện như sau: - Trên 90% so với quần thể đối chứng Harvard: Bình thường.
- Từ 90% - 75%: Suy dinh dưỡng độ I. - Từ 75% - 60%: Suy dinh dưỡng độ II. - Dưới 60%: Suy dinh dưỡng độ III. Cách phân loại của Gomez không phân biệt giữa Marasmus và Kwashionkor cũng như giữa SDD cấp hay mạn bởi vì cách phân loại này không để ý đến chiều cao.
c) Phân loại theo Wellcome (1970) Là phân loại dựa trên CN/T , có xét tới triệu chứng phù. Chia làm 3 loại: + SDD nhẹ: CN/T còn từ 70% đến 80% (Từ -2SD đến -3SD) + SDD vừa: CN/T còn từ 60% đến 70% (Từ -3SD đến -4SD) + SDD nặng: gồm 3 thể. Marasmus, Kwashiorkor, thể phối hợp K-M - Thể Marasmus. Mất toàn bộ lớp mỡ dưới da, thường kèm theo giảm trương lực cơ, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, thiếu vitamin, biếng ăn, quấy khóc - Thể Kwashiorkor.
Phù dinh dưỡng, kèm theo mảng sắc tố, chấm sắc tố, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, thiếu vitamin. - Thể phối hợp K - M. Có phù dinh dưỡng, cơ thể gầy đét, thiếu máu, vitamin, rối loạn tiêu hóa. Cách phân loại này cũng sử dụng chỉ số cân nặng theo tuổi so với trung vị của quần thể Harvard nhưng chú ý thêm trẻ có phù hay không.
1 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo GOMEZ Thể suy dinh dưỡng Đánh giá W/A H/A W/H ≥ 80 % chuẩn 90 % chuẩn ≥ 70 % chuẩn Trẻ bình thường 71-80 % chuẩn 86-90% chuẩn 71-80 % chuẩn Trẻ SDD nhẹ. 61- 70 % chuẩn 81- 85% chuẩn 61-80% chuẩn Trẻ SDD vừa. 60 % chuẩn 80 % chuẩn 60 % chuẩn Trẻ SDD nặng. d) Phân loại theo Waterlow (1972) Cách phân loại này dựa trên cả chiều cao/ tuổi và cân nặng/ tuổi so với trung vị của quần thể Harvard.
2 Đánh giá tình trạng SDD trẻ em theo Waterlow Chiều cao Cân nặng theo chiều cao theo tuổi > 80% < 80% Thiếu dinh dưỡng thể gầy còm ≥ 90% Bình thường (thiếu dinh dưỡng cấp) Thiếu dinh dưỡng thể còi cọc Thiếu dinh dưỡng nặng kéo dài < 90% (thiếu dinh dưỡng trường diễn) (thể phối hợp) Cách phân loại này giúp cho việc phân biệt đứa trẻ nào còm, đứa trẻ nào còi hoặc phối hợp cả hai thể vừa còm vừa còi. e) Phân loại dựa vào độ lệch chuẩn hoặc Z- score [15] [18] Nhân trắc học, điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống, khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng, xét nghiệm sinh hóa (máu, nước tiểu…), các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng, điều tra tình trạng bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng bệnh tật và dinh dưỡng, đánh giá các yếu tố sinh thái lên quan đến TTDD và sức khỏe. Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng: Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá TTDD. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất 7 quan trọng.
Có thể chia ra các nhóm kích thước nhân trắc sau đây: Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng; các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng; cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt như lớp mỡ dưới da và cơ… Ưu điểm của phương pháp nhân trắc học: đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn; các phương pháp chính xác khi áp dụng kỹ thuật chuẩn; trang thiết bị không đắt tiền, dễ mang vác vận chuyển; có thể xác định được mức độ SDD; Có thể khai thác và đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ; Có thể dùng để đánh giá sự biến đổi TTDD của nhiều thế hệ kế tiếp nhau như trên; các test sàng lọc nhằm xác định các cá thể có nguy SDD cao. Đánh giá: Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị: coi thiếu dinh dưỡng khi cân nặng theo tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD). So với Chuẩn tăng trưởng của WHO 2016, Các chỉ số sử dụng đánh giá TTDD: *Cân nặng theo tuổi: đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất. Điểm ngưỡng là dưới -2SD được coi là SDD thể thiếu cân Mức độ Ngưỡng phân loại Suy dinh dưỡng vừa (độ 1) Dưới -2SD đến ≥-3SD Suy dinh dưỡng nặng (độ 2) Dưới -3SD đến ≥ -4SD Suy dinh dưỡng rất nặng (độ3) Dưới -4SD BìnhThường -2SD đến +2SD Thừa cân Trên +2SD *Chiều cao theo tuổi: chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể tham chiếu của WHO.
Thang phân loại dựa trên độ lệch chuẩn như sau: Mức độ Ngưỡng phân loại Suy dinh dưỡng độ 1(thấp còi độ 1) Dưới -2SD đến ≥-3SD Suy dinh dưỡng độ 2 (thấp còi độ 2) Dưới -3SD Bình Thường -2SD trở lên Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh 8 dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ. *Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng/ chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD theo quần thể tham chiếu WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân bị SDD thể gầy còm. Nếu chỉ tiêu CN/ CC trên +2SD là trẻ có biểu hiện thừa cân. Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/ tuổi và cân nặng/ chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2SD) đề nghị đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa thấp còi.
WHO còn đề nghị phối hợp cả 3 chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao để phân loại thiếu dinh dưỡng cấp hay quá khứ. Đồng thời dùng 3 chỉ tiêu này để chia ra các thể lâm sàng biểu hiện thời gian bị bệnh. Điểm ngưỡng cho các chỉ tiêu này được coi là bình thường là X± 2SD. Trong các đánh giá ở cộng đồng những chỉ số cân nặng theo tuổi thấp được gọi là thể nhẹ cân, chiều cao theo tuổi thấp được gọi là thể thấp còi và cân nặng theo chiều cao thấp là thể gầy còm.
Sử dụng 3 chỉ tiêu đó WHO đã đưa ra ngưỡng phân loại (Bảng 1.1) để nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng như sau: Bảng 1. 3 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO Mức độ SDD theo tỷ lệ % Chỉ tiêu Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi (Stunting) <20 20-29 30-39 ≥ 40 Nhẹ cân (Underweight) <10 10-19 20-29 ≥ 30 Gày còm (Wasting) <5 5 -9 10 -14 ≥ 15 f). Phân loại dựa vào bách phân vị * Khái niệm bách phân vị. Một bách phân vị ứng với vị trí của một giá trị kích thước đo được trong mối tương quan với tất cả các giá trị đo được (100%) của quần thể tham khảo được phân ranh giới theo thứ tự và độ lớn.
9 * Cách phân loại dựa vào bách phân vị. Người ta lấy điểm bách phân vị thứ ba của quần thể tham khảo NCHS làm điểm ngưỡng. Những đứa trẻ có số đo nhân trắc dưới điểm này đều bị coi là suy dinh dưỡng. Phân loại dựa vào chỉ số vòng cánh tay: Vòng cánh tay được sử dụng trong test sàng lọc đối với suy dinh dưỡng thiếu protein - năng lượng khi mà các kích thước cân nặng và chiều cao của trẻ không thể đo được và tuổi chính xác của trẻ không rõ.
Một số điểm ngưỡng để phân loại mức độ suy dinh dưỡng của trẻ từ 1 - 5 tuổi. - Bình thường: > 13,5cm. - Coi là báo động hoặc suy dinh dưỡng nhẹ: 12,5 - 13,5 cm. - Suy dinh dưỡng: < 12,5 cm.
- Suy dinh dưỡng nặng: < 11,5 cm. Giải pháp và hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng ở Việt Nam Trong những năm qua Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đầu tư cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng trẻ em. Từ năm 2000, dự án phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã được đưa vào là một trong các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng chống các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm với mức đầu tư trung bình khoảng 100 tỷ/năm. Trên cơ sở đường lối dinh dưỡng của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, Dự án mục tiêu Quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và các tỉnh đã xây dựng kế hoạch nhằm giảm suy dinh dưỡng trẻ em trên địa bàn toàn quốc.