Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm hệ hô hấp ở trẻ Hình1. Hệ hô hấp 1. Mũi Ở trẻ nhỏ, sự hô hấp bằng đường mũi còn hạn chế vì mũi và khoang hầu tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp.
Vì vậy không khí đi vào không được sưởi ấm và lọc sạch đầy đủ[27]. Niêm mạc mũi mỏng, mịn; lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết nên dễ chấn thương, xây xát gây chảy máu. Mũi trẻ dễ bị viêm nhiễm do chức năng loại thải vi khuẩn, virus, bụi còn yếu và khả năng sát trùng của niêm dịch còn kém. Do những đặc điểm trên, khi bị nhiễm khuẩn ở mũi họng thì dễ gây xuất tiết, tắc mũi, phù nề ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của trẻ làm trẻ khó thở và khó bú.
Tổ chức hang dưới niêm mạc chưa phát triển nhưng ở trẻ từ 5 tuổi đến giai đoạn dậy thì lại phát triển mạnh nên trẻ dễ chảy máu cam. Ngoài ra, sự phát triển chưa rõ rệt của xoang sàng, xoang trán và xoang bướm bắt đầu phát triển từ thời điểm 2 tuổi nên viêm ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ít lan toả đến các xoang. Họng hầu Họng hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn. Họng phát triển mạnh trong năm đầu và vào tuổi dậy thì.
Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu mô rung hình trụ. Dưới 3 tuổi, họng trẻ gái và trai dài bằng nhau. Từ 3 tuổi trở đi, họng trẻ trai dài hơn họng trẻ gái. Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh lúc trẻ được 4-6 tuổi cho đến tuổi dậy thì.
Ở trẻ nhỏ duới 1 tuổi, tổ chức bạch huyết thường chỉ thấy VA phát triển còn amygdales chỉ phát triển từ 2 tuổi trở lên. Khi VA bị viêm gây xuất tiết, phù nề vùng họng, gây tắc mũi sau làm trẻ phải thở bằng miệng. Thở bằng miệng sẽ không được sâu, không khí không được sưởi ấm, số lượng khí trao đổi ít hơn; lâu dần gây rối loạn toàn thân nghiêm trọng do thiếu khí kéo dài như: lồng ngực kém phát triển, bộ mặt VA. VA cũng ở gần vòi Eustache nên viêmVA kéo dài là nguyên nhân của viêm tai giữa tái diễn.
Thanh, khí, phế quản Thanh quản Có hình phễu mở rộng ở phía trên. Ở trẻ bú mẹ, thanh quản nằm ở vị trí cao hơn 2 đốt sống so với người lớn. Thanh quản phát triển từ từ nhưng đến tuổi dậy thì thì phát triển mạnh. Dưới 6-7 tuổi, thanh môn hẹp, dây thanh đới ngắn.
Vì vậy giọng nói của trẻ em cao hơn. Từ 12 tuổi, thanh đới con trai dài hơn con gái do đó giọng nói con trai trầm hơn. Khí quản Khí quản trẻ dưới 6 tháng tuổi có hình phễu. Chiều dài tăng dần từ 4 cm ở trẻ sơ sinh lên 5,5 cm ở trẻ dưới 5 tuổi.
Đường kính khí quản hẹp, tăng không đáng kể từ 0,5cm ở trẻ sơ sinh lên 0,7cm ở trẻ dưới 5 tuổi. Niêm mạc khí quản nhẵn, nhiều mạch máu và tương đối khô do các tuyến của niêm mạc chưa phát triển. Sụn khí phế quản mềm, dễ co giãn. Phế quản Vị trí khí quản chia đôi thay đổi theo lứa tuổi: - Ở trẻ sơ sinh : ở đốt sống lưng III-IV.
- Ở trẻ 2-6 tuổi : ở đốt sống lưng IV- V - Ở trẻ 12 tuổi : ở đốt sống lưng V- VI Nhánh phế quản trái đi sang một bên và nhỏ hơn phế quản phải.Nhánh phế Thư viện ĐH Thăng Long 5 quản phải tiếp tục hướng đi của khí quản và rộng hơn phế quản trái nên dị vật dễ rơi vào hơn. Đặc điểm chung của thanh khí phế quản trẻ em là lòng tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòng sụn mềm dễ biến dạng và niêm mạc nhiều mạch máu. Do những đặc điểm trên, trẻ em dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, niêm mạc thanh khí phế quản dễ bị phù nề, xuất tiết và dễ biến dạng trong quá trình bệnh lý. Phổi Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi.
Sự phát triển của phổi gồm tăng về khối lượng, diện tích hô hấp và biệt hoá các tổ chức phổi. Điều này liên quan chặt chẽ với sinh lý bệnh hô hấp ở trẻ em. Trọng lượng Ở trẻ sơ sinh phổi chỉ nặng khoảng 50-60 gr. Khi trẻ 6 tháng tuổi, trọng lượng phổi tăng gấp 3 lần, và đến 12 tuổi thì tăng gấp 20 lần.
Thể tích Thể tích phổi tăng nhanh theo tuổi: sơ sinh là 65ml, đến 12 tuổi tăng lên 10 lần. Kích thước phế nang và diện tích hô hấp cũng tăng nhanh. Ở trẻ sơ sinh là 6 m2; ở người lớn là 50 m2. Như vậy diện tích hô hấp tính trên mỗi đơn vị trọng lượng cơ thể ở trẻ nhỏ ưu thế hơn người lớn.
Điều này phù hợp với nhu cầu chuyển hóa cao ở trẻ nhỏ. Cấu tạo Từ sơ sinh đến 8 tuổi, phổi phát triển chủ yếu bằng tăng số lượng phế nang. Từ 8 tuổi trở đi chủ yếu do sự tăng kích thước của phế nang. Phổi trẻ em có đặc điểm: nhiều mạch máu và bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là quanh các phế nang và thành bạch mạch.
Vì vậy, phổi trẻ em có khả năng co bóp lớn, tái hấp thu dịch trong phế nang nhanh hơn nhưng cùng với sự phát triển chưa hoàn chỉnh của các cơ hô hấp nên lồng ngực di động kém. Do những đặc điểm trên, phổi trẻ rất dễ bị xuất huyết, xẹp phổi, khí phế thủng. Rãnh liên thuỳ phổi ở trẻ nhỏ không rõ rệt, phổi phải có 2 rãnh, phổi trái có 1 rãnh. Các rãnh này ngày càng rõ và sâu hơn theo lứa tuổi.
Khi trẻ lớn lên, các túi phổi hoàn thiện dần, các phế nang mới được tạo ra thêm, tổ chức đàn hồi phát triển mạnh, tổ chức liên kết giữa các túi phổi giảm dần. Rãnh liên thùy Rãnh liên thùy phổi trẻ em ở lứa tuổi nhỏ không rõ rệt. Phổi phải có 2 rãnh: 6 rãnh lớn nằm nghiêng phân cách thùy dưới với thùy trên và thùy giữa; rãnh bé nằm ngang phân cách thùy trên với thùy giữa. Phổi trái chỉ có 1 rãnh.
Rốn phổi Gồm phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạch huyết. Những hạch này liên hệ với các hạch khác ở phổi. Vì vậy bất kỳ một quá trình viêm nhiễm nào ở phổi đều có thể gây phản ứng đến các hạch rốn phổi. Rốn phổi phải cao hơn rốn phổi trái.
Các hạch bạch huyết gồm các nhóm khí quản, khí phế quản, phế quản phổi, carina đều có liên quan đến hạch bạch huyết ở trung thất, thượng đòn nên rất dễ viêm nhiễm. Màng phổi Ở trẻ em, nhất là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, màng phổi rất mỏng, dễ bị dãn khi thở vào sâu hoặc khi bị tràn dịch, tràn khí màng phổi. Màng phổi gồm lá thành và lá tạng mà nằm giữa là khoang màng phổi. Nếu có quá trình viêm ở đây sẽ tích luỹ các chất dịch.
Sự tích luỹ này đủ lớn sẽ gây hiện tượng dịch chuyển các cơ quan trong trung thất. Lồng ngực Lồng ngực trẻ sơ sinh tương đối ngắn, có hình trụ, đường kính trước-sau hầu như bằng đường kính ngang. Xương sườn nằm ngang và thẳng góc với cột sống, cơ hoành nằm cao và cơ liên sườn chưa phát triển đầy đủ. Do đặc điểm này khi trẻ hít vào, lồng ngực không thay đổi mấy và do đó cũng giải thích được tại sao trẻ nhỏ thở chủ yếu bằng cơ hoành.
Khi trẻ biết đi, lồng ngực có sự thay đổi. Các xương sườn chếch xuống dưới, đường kính ngang tăng nhanh và gấp 2 đường kính trước-sau. Do đó mỗi lần thở được sâu và nhiều hơn nhờ lồng ngực có thể thay đổi thể tích nhiều và đó cũng là điều kiện cần thiết để xuất hiện kiểu thở ngực. Các đặc điểm sinh lý 1.
Nhịp thở Tiếng khóc sau sinh là sự khởi đầu cho nhịp thở ở trẻ. Trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non, nhịp thở rất nông và khóc yếu làm cho phổi giãn ra không hết, dễ đưa đến xẹp phổi và mềm phổi. Ở thời kỳ sơ sinh, do trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh nên nhịp thở dễ bị rối loạn với những cơn ngưng thở ngắn và thở lúc nhanh lúc chậm. Khi lớn lên hiện tượng này mất dần.
Ở trẻ nhỏ, do thở nông nên tần số thở của trẻ phải cao để đảm bảo cung cấp đủ oxy. Thư viện ĐH Thăng Long 7 Lượng khí thở vào trong một lần thở tăng dần theo tuổi: - Sơ sinh : 25 ml. - Người lớn : 500 ml. Tần số thở bình thường ở trẻ em giảm dần theo tuổi: - Sơ sinh : 40 - 60 lần/phút.
- 3 tháng : 40 - 45 lần/phút. - 6 tháng : 35 - 40 lần/phút. - 1 tuổi : : 30 - 35 lần/phút. - 3 tuổi : : 25 - 30 lần/phút.
- 6 tuổi : : 20 - 25 lần/phút. - 15 tuổi : 18 - 20 lần/phút. - Người lớn : 15 - 16 lần/phút. Kiểu thở - Sơ sinh: chỉ thở bằng mũi, thở bụng (thở cơ hoành), nhịp thở không đều.
- Trẻ bú mẹ: thở bằng mũi cho đến 12-18 tháng. Kể từ 6 tháng tuổi có thể thở bằng miệng và kiểu thở hỗn hợp ngực-bụng, nhịp thở đều. - Trẻ trên 2 tuổi: hỗn hợp ngực – bụng. - Trẻ 10 tuổi: thở giống như người lớn, con trai thở bụng, con gái thở ngực.
Quá trình trao đổi khí ở phổi Quá trình trao đổi khí ở phổi của trẻ em mạnh hơn ở người lớn. Người ta đã nhận thấy rằng lượng không khí hít vào trong 1 phút ở trẻ dưới 3 tuổi (theo đơn vị trọng lượng của trẻ) nhiều gấp đôi và ở trẻ 10 tuổi nhiều gấp hơn 1,5 lần so với người lớn. Như vậy cơ thể trẻ hấp thu khí oxy trong một đơn vị thời gian tương đối nhiều hơn cơ thể người lớn bởi vì chuyển hóa năng lượng của trẻ em mạnh hơn người lớn. Thể tích dưỡng khí được hấp thu cho mỗi cân nặng trong mỗi giờ cũng thay đổi theo lứa tuổi.
- Trẻ 2 tuổi: 558 ml - Trẻ 6 tuổi: 552 ml. 8 - Trẻ 10 tuổi: 377 ml - Trẻ 14 tuổi: 313 ml. - Từ 20 – 30 tuổi: 277 ml Để đảm bảo cho nhu cầu oxy cao như vậy, bộ máy hô hấp của trẻ em cũng có một số cơ chế thích nghi; ví dụ như để bù vào thở nông, trẻ phải thở nhanh lên. Sự trao đổi khí oxy và khí cácboníc giữa phế nang và máu cũng được thực hiện mạnh hơn nhờ sự chênh lệch phân áp của khí oxy và khí cácboníc.
Thành phần khí oxy trong khí phế nang ở trẻ em cao hơn người lớn: - Trẻ bú mẹ : 17 - 17,16%.