Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1. Định nghĩa Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là một nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây nên những tôn thương viêm cấp tính ở một phân hay toàn bộ hệ thông đường hô hấp bao gôm: Tai, mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiêu phế quản, phối. Thời gian bị bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [5], [24].
Phân loại về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 1. Phân loại theo vị trí giải phẫu Lấy nắp thanh quản là ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Nếu tổn thương ở phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên, ton thương ở phía dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới. + Nhiễm khuẩn khuẩn hô hấp trên là các viêm họng, viêm VA, viêmamidal, viêm xoang, viêm tai gitta, ho, cam lạnh.
Nhiễm khuẩn đường hô hap trén thuong nhe va it gây tử vong. + Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới thường gặp nhất là viêm phổi, tuy chỉ chiêm khoảng 1/3 số ca NKHHCT nhưng thường nặng và dễ gây tử vong [5], [23], [24]. Phân loại theo mức độ nặng nhẹ Theo TCYTTG có thể dựa vào dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dâu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh. - Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dẫu hiệu nguy kịch.
-Viêm phổi nặng: Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực. - Viêm phổi: Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực. - Không viêm phối (ho và cảm lạnh): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng nguc [5], [23], [24]. Các biểu hiện lâm sang 1.
Dấu hiệu thường gặp [5], [24] - Ho. - Nhịp thở nhanh: + Trẻ< 2 tháng: Nhịp thở > 60 lân/phút là thở nhanh. + Trẻ 2 — 12 tháng: Nhịp thở > 50 lần/phút là thở nhanh. + Trẻ 12 tháng — 5 tuổi: Nhịp thở > 40 lân/phút là thở nhanh.
- Rút lốm long ngực (RLLN): + Rút lõm lồng ngực là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới của xương ức rút lõm xuông trong thì hít vào. + Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nêu chỉ có RLLN nhẹ thì chưa có giá trị chân đoán vì lông ngực của trẻ còn mềm. RLLN phải mạnh và sâu mới có giá trị chân đoán. - Tho kho khé (Wheezing): + Tiếng thở khò khè nghe ở thì thở ra.
+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phổi vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại. + Kho khè hay gặp trong hen phế quản, viêm tiêu phê quản, viêm phôi. - Tho rit (Stridor): + Tiếng thở rít nghe ở thì hít vào. + Tiếng thở rít xuất hiện khi luồng khí đi qua chỗ hẹp ở thanh — khí quản.
+ Hay gặp trong mềm sụn thanh quan bam sinh, viém thanh quan rit, di vat đường thở. Dấu hiệu nguy kịch[5], [24] *Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi: - Trẻ không uống được hoặc bỏ bú. - Ngủ li bì hoặc khó đánh thức: Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngu li bì hoặc mở mắt rồi ngủ lại ngay (khó đánh thức). - Thở rít khi nằm yên.
- Suy đinh dưỡng nặng. * Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi: - Bú kém hoặc bỏ bú. - Ngủ li bì khó đánh thức. - Thở rít khi nằm yên.
- Thở khò khè. - Sốt hoặc hạ nhiệt độ. Nguyên nhân và yếu tỖ nguy cơ 1. Nguyên nhân Nguyên nhân gây NKHHCT do virus và vi khuẩn.
Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh. Virus hay gặp nhất là virus hợp bào hô hấp (RSV), sau đó đến Adenovirus, VIrus cúm, vIrus á cúm,. Ở các nước đang phát triển vi khuẩn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong NKHHCT. Vi khuẩn hay gặp nhất là các vi khuẩn phế cầu và #1.imfiuenzae, sau đó đên tụ câu, liên cầu và các vi khuẩn khác [5], [23], [24].
Các yếu t6 nguy CƠ - Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500g): Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuôi có cân nặng lúc sinh dưới 2500g cao hơn so với trẻ có cân nặng trên 2500g. - Suy dinh dưỡng cũng là yêu tô mắc NKHHCT cao hơn trẻ bình thường và khi bị NKHHCT thì thời gian điều trị kéo dài hơn, tiên lượng xâu hơn. - Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: Nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ. - Ô nhiễm không khí, khói bụi sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhày cũng như hoạt động của đại thực bào, sự sản sinh các Globulin miễn dịch, do đó trẻ dễ bị NKHHCT.
- Khói thuốc lá cũng là một yếu tô gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ. - Thời tiết lạnh, thay đối là điều kiện thuận lợi gây NKHCT ở trẻ em. - Ngoài các yêu tô trên, nhà ở chật chội, thiêu vệ sinh, đời sông kinh tê thâp, thiéu vitamin A cũng là điều kiện làm tré dé mac NKHHCT. Thiéu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị NKHHCT [5], [23], [24].
Tình hình nhiễn khuẩn hô hấp cấp tính ở trề em Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân hàng đâu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuôi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Năm 1997 giết chết khoảng 4 triệu trẻ em ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trong đó viêm phổi là nghiêm trọng nhất và chiếm gần như tất cả các trường hợp tử vong do NKHHCT [38]. Nguyên nhân tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi trên thế giới (năm 2004): Các bệnh không lây nhiễm là 4%, chân thương là 4%, các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng khác là 9%, HIV/AIDS là 2%, sởi là 4%, sốt rét là 7%, bệnh tiêu chảy là 16%, viêm phổi là 17% [30].
Mặc dù việc thực hiện các can thiệp an toàn, hiệu quả đã làm giảm tỷ lệ tử vong do viêm phối từ 4 triệu vào năm 1981 xuống chỉ còn hơn một triệu vào năm 2013, nhưng viêm phổi vẫn chiêm gân 1/5 số ca tử vong ở trẻ em trên toàn thê giới [38]. Ước tính vào năm 2000, 1,9 triệu trẻ em đã chết vì NKHHCT, 70% trong số trẻ em đó ở Châu Phi và Đông Nam A. Tổ chức Y tê thế giới (WHO) ước tính có 2 triệu trẻ em dưới 5 tuôi chết vì viêm phối mỗi năm [33].Trong năm 2010, có 120 triệu đợt viêm phổi (14 triệu trong số đó tiến triển đến các đợt nặng) ở trẻ đưới 5 tuôi. Ước tính có khoảng 1,3 triệu ca tử vong do viêm phối ở trẻ em dưới 5 tuôi vào năm 2011 [28].
Trên toàn thế giới, 70% tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi 1A do NKHHCT va tỷ lệ tử vong là 20% (chủ yếu là viêm phổi), chiêm 2,04 triệu ca tử vong/năm. Đông Nam Á đứng đầu về số lượng mắc NKHHCT, chiém hon 80% tong số ca mắc bệnh cùng với các nước châu Phi cận Sahara. Tại Án Độ, có hơn 700 triệu lần nhập viện do NKHHCT và hơn 52 triệu lần do viêm phối, hơn 4000 ca tử vong mỗi năm do viêm phối chiếm 13%-16% tổng số ca tử vong khi nhập viện nhi khoa. Các báo cáo gần đây cho thấy 3,5% gánh nặng bệnh tật toàn câu là do NKHHCT gây ra.
Ở các nước đang phát triển, trung bình mỗi trẻ em có 5 đợt NKHHCT/năm chiếm 30%-50% tổng sô lần khám ngoại trú nhi khoa và 20%-30% lần nhập viện nhi khoa. Trong khi ở nước đang phát triển, một đứa trẻ có khả năng bị viêm phối khoảng 0,3 lần/năm và ở các nước phát triển là 0,03 lần/trẻ/năm [341]. Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, phần lớn tử vong viêm phổi (>75%) xảy ra tại 6 quốc gia: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Papua New Guinea, Philippines và Việt Nam. Mặc dù đạt được nhiêu tiễn bộ trong quản lý viêm phổi gần đây, tần suất mặc viêm phôi trẻ em Việt Nam vẫn cao gấp 10 lần các nước có thu nhập cao trong khu vực như Mỹ, Nhật Bản.
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không chỉ tạo ra gánh nặng bệnh tật mà cả gánh nặng kinh tế đối với gia đình. Chi phí điều trị và tác dụng phụ tăng lên nếu trẻ không được quản lý tốt (bao gồm cả nhập viện không cần thiết và sử dụng kháng sinh quá mức). Hiện tại NKHHCTT là nguyên nhần nhập viện chính của trẻ em Việt Nam, chiêm 39,9% tổng nhập viện tại bệnh viện Nhi đồng II [33]. Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Thìn và Đàm Thị Tuyết (2013) về “Thực trạng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” trên 673 trẻ em.
Kết quả cho thây: Tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT ở địa điềm nghiên cứu còn cao (39,5%), trong đó tỷ lệ không viêm phổi: Ho hoặc cảm lạnh (33,3%); Viêm phối và viêm phê quản (5,6%); Viêm phổi nặng (0,6%.) Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cao ở lứa tuổi từ 12 - 35 tháng tuổi (43,8%) [20]. Theo nghiên cứu của Ngô Viết Lộc và Võ Thanh Tâm (1017) về “Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” trên 746 trẻ em cho biết tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 23,5% [16]. Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ nhiễn khuẩn hô hấp cấp tính 1. Vai tro của bà mẹ trong chăm sóc tré Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình.
Những đứa con từ khi mới sinh ra đến khi trưởng thành, phân lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn từ bố. Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ăm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ôm đau [19]. Phụ nữ là “nội tướng” của gia đình, là một chủ thê của đời sông xã hội và cộng đông, là người chăm sóc người già, nuôi dưỡng thế hệ tiếp theo [15]. Vì vậy các bà mẹ là người có thê nhận biết các dấu hiệu bệnh sớm nhất của trẻ em, chăm sóc, theo dõi và phòng bệnh tốt nhất cho trẻ.