ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm não cấp là tình trạng viêm nhiễm của nhu mô não có thể lan tỏa hoặc khu trú, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng phần lớn là do một số loại virus, gây nên sự rối loạn chức năng vận động và tư duy [46], [7]. Bệnh gặp ở cả người lớn và trẻ em, bệnh xảy ra quanh năm và gặp ở hầu hết các nước trên thế giới. Bệnh khởi phát cấp tính, diễn biến nặng và có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng hoặc để lại di chứng nặng nề. Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa các nước nhưng nói chung từ 3,5 – 7,4 trường hợp trên 100.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về viêm não cấp từ năm 1985 đến năm 1993 ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh hàng năm là 1 - 8 trường hợp trên 100. Trước năm 2007, viêm não Nhật Bản là nguyên nhân chính của căn bệnh này, có tỉnh lên tới 85% [51]. Từ năm 2007, vacxin viêm não Nhật Bản đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng nên làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh do chủng này xuống 10% các ca viêm não cấp xác định được căn nguyên [4]. Theo nghiên cứu của Hồ Thị Bích (năm 2019), số bệnh nhi khỏi bệnh để lại di chứng chiếm 28,8%; trong đó, phần lớn là di chứng về vận động (từ 71,8% đến 84,6%), khiếm khuyết về lời nói (73,1%) và thay đổi về hành vi (60,3%) [5].
Tại Trung tâm Bệnh Nhiệt đới - Bệnh viện Nhi Trung ương, hàng năm tiếp nhận và điều trị khoảng 200-300 bệnh nhi viêm não. Bệnh diễn ra quanh năm nhưng chủ yếu ở các tháng mùa hè. Theo báo cáo thường niên của Bệnh viện , tỷ lệ tử vong do viêm não chiếm 12,4% trong tổng số tử vong chung toàn viện và 5% số bệnh nhi viêm não vào viện; ở những bệnh nhi viêm não được ra viện, tỷ lệ có biến chứng, di chứng chiếm tới 30 - 40% [1]. Di chứng viêm não là hậu quả nặng nề của bệnh, không những gây khó khăn cho cuộc sống của người bệnh, mà còn là gánh nặng của gia đình, cộng đồng và xã hội.
Chăm sóc bệnh nhi viêm não là một công việc khó, đòi hỏi người điều dưỡng phải có kiến thức, kỹ năng, đặc biệt là lòng yêu thương chân thành và sự kiên trì. Mặt khác, kết quả điều trị và chăm sóc bệnh nhi viêm não phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp giữa người thầy thuốc với điều dưỡng viên và người chăm sóc trẻ. Có nhiều nghiên cứu về viêm não cấp ở trẻ em, tuy nhiên vấn đề chăm sóc chưa được đề cập nhiều đến trong các nghiên cứu này. 2 Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kết quả chăm sóc, điều trị bệnh nhi viêm não giai đoạn cấp tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2020 - 2021” nhằm mục đích nâng cao hiệu quả phối hợp chăm sóc, điều trị của các nhân viên y tế đặc biệt chú trọng tới đối tượng điều dưỡng viên và người chăm sóc bệnh nhi.
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhi viêm não giai đoạn cấp điều trị tại Trung tâm Bệnh Nhiệt đới Bệnh viện Nhi Trung ương. Phân tích kết quả chăm sóc trẻ bệnh và một số yếu tố liên quan. Thang Long University Library 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
Khái niệm viêm não cấp ở trẻ em Viêm não cấp là một tình trạng viêm cấp tính của nhu mô não có thể lan tỏa hoặc khu trú, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh. Có nhiều nguyên nhân gây viêm não: do vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng, dị ứng,. trong đó nguyên nhân do virut là hay gặp nhất. Bệnh khởi phát đột ngột, diễn biến nhanh và có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề.
Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và chăm sóc toàn diện, điều trị căn nguyên còn hạn chế [1], [35]. Dịch tễ học bệnh viêm não cấp 1. Dịch tễ học viêm não trên thế giới Những nghiên cứu của thập niên đầu thế kỉ 21 cho thấy: mặc dù bệnh viêm não trẻ em đã giảm, các căn nguyên xác định được nhiều hơn nhưng vẫn còn hiện diện ở hầu khắp nơi trên thế giới với tỷ lệ mắc hàng năm từ 3,5 đến 7,4 trên 100.000 người - chủ yếu ở trẻ em và gặp nhiều hơn ở trẻ em trai so với trẻ em gái. Có căn nguyên viêm não mang tính toàn cầu như viêm não do các virus nhóm Herpes nhưng cũng có căn nguyên mang tính khu vực như viêm não do các virus nhóm Arbovirus [43].
Viêm não Nhật Bản (VNNB) được coi là nhiễm trùng thần kinh của nhi khoa khu vực Đông Nam Á và không chỉ xuất hiện ở trẻ em mà còn ở người lớn tại Việt Nam, Campuchia, Nhật Bản [32]. Ở Bắc Mỹ sự xuất hiện của virus Tây sông Nile là sự ghi nhận các tác nhân không mong muốn của viêm não do virus ở các nước đang phát triển và các nước phát triển và sự xuất hiện của viêm não do virus liên quan đến cấy ghép là một trong các phát hiện gần đây trong dịch tễ học của virus thần kinh. Virus Tây sông Nile thuộc nhóm Arbovirus đã được nghiên cứu ở Bắc Mỹ và đang là tác nhân gây bệnh phức tạp hơn ngoài sự mong đợi [41]. Nghiên cứu phân tích của Jmor và cộng sự năm 2008 nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh viêm não cấp ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây và các nước Nhiệt đới những năm gần đây là 10,5 trên 100.000 trẻ em; ở người lớn là 2,2% và chung cho mọi lứa tuổi là 6,34% [31].
Theo Davison và cộng sự năm 2003 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chung tại Anh là 1,5 trên 100.000 người; ở trẻ em là 2,8 trên 100.000 trẻ em, chiếm 43% tổng số ca bệnh nhập viện [27]. 4 Hiện nay mới có một số loại viêm não đã được nghiên cứu khá đầy đủ như viêm não lây truyền do muỗi và ve: đã xác định được tương đối rõ về khu vực dịch tễ, mùa và các loại vector truyền bệnh. Viêm não do Enterovirus, Influenza virus và Varicella – zoster virus: xảy ra theo mùa và thường xuất hiện dịch. Viêm não do Herpes simplex virus (HSV): xảy ra rải rác ở khắp nơi trên thế giới, dù có thể khác biệt chút ít theo mùa và vùng địa lí [26], [43].
Dịch tễ học viêm não tại Việt Nam Ở nước ta, bệnh viêm não đã ghi nhận cả ở trẻ em và người lớn từ trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, nhưng không xác định được căn nguyên mà chỉ chẩn đoán là “hội chứng não cấp” [1]. Trong những thập kỉ 60, 70 và 80 của thế kỉ 20 đã xảy ra nhiều vụ dịch viêm não – chủ yếu là VNNB. Tỷ lệ mắc bệnh tại cộng đồng không có số liệu chính xác; tỷ lệ mắc ở trẻ em cao hơn nhiều so với người lớn, trẻ em nam mắc nhiều hơn trẻ em nữ; thường xảy ra các vụ dịch vào mùa hè – tập trung từ tháng 4 đến hết tháng 7 với tỷ lệ tử vong và di chứng khá cao. Căn nguyên gây viêm não cũng chỉ xác định được virus VNNB và một vài trường hợp có bệnh cảnh giống viêm não trên bệnh nhân viêm màng não do não mô cầu và trực khuẩn lao [7], [16].
Những năm gần đây nhờ hiệu quả của chương trình tiêm chủng mở rộng, số bệnh nhân mắc VNNB tuy có giảm và ít xảy ra dịch lớn nhưng vẫn còn là một trong những bệnh hay gặp trong nhóm bệnh nhiệt đới. Căn nguyên viêm não cũng được xác định nhiều hơn nhờ áp dụng các xét nghiệm sinh học phân tử để phân lập tìm ra căn nguyên gây bệnh. Theo nghiên cứu của Phạm Nhật An và cộng sự tiến hành trong thời gian 5 năm (2008 – 2012) tại Bệnh viện Nhi Trung ương: đã tiếp nhận và điều trị 2.565 trẻ viêm não, trung bình mỗi năm có hơn 500 bệnh nhi với căn nguyên hàng đầu là các virus VNNB và Herpes simplex typ 1 [3]. Dịch tễ học các bệnh viêm não nói chung và viêm não ở trẻ em nói riêng khác nhau theo từng khu vực địa lí, theo nhóm tuổi, theo thời gian và thay đổi nhiều sau khi vacxin VNNB được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng.
Nguyên nhân gây viêm não 1. Viêm não do nhiễm trùng [43]. Trong vòng 30 năm trở lại đây, nhờ sử dụng hiệu quả vacxin phòng các bệnh như sởi, quai bị, rubella, ho gà,… nên các trường hợp viêm não do các tác nhân này Thang Long University Library 5 trở nên ít gặp; mặt khác, nhờ các tiến bộ của y học đã giúp phát hiện thêm nhiều nguyên nhân gây viêm não. Tuy vậy, vẫn còn khá nhiều trường hợp viêm não không tìm được căn nguyên và hầu hết trong số đó là do các loại virus gây nên.
Viêm não do virus: Tên các loại virus gây viêm não: Adenovirus. Họ Herpesviridae, gồm các nhóm: Herpes simplex virus/HSV (typ HSV-1 và typ HSV-2); Varicella-zoster virus; Epstein-Barr virus; Cytomegallovirus/CMV; Human herpesvirus 6; Herpesvirus B. Phân loại các virus gây viêm não ở ngƣời: -Theo cách thức lây truyền: + Các virus lây truyền từ người sang người: Adenovirus; HSV (typ 1 và typ 2); CMV; Echovirus; Enterovirus; influenza virus A, B; các virus sởi, quai bị và viêm gan B. + Các virus lây truyền từ ve, muỗi sang người: điển hình là nhóm Arbor virus.
+ Các virus lây từ động vật máu nóng sang người: virus dại, các virus tương tự Herpes virus, Encephalomyocarditis virus. -Theo sự thường gặp: + Virus viêm não Nhật Bản (Japanese encephalitis virus: JEV). + Herpes simplex virus (HSV), Varicella – zoster. + Epstein-bar virus (EBV), CMV.
+ Rubella virus, Measle virus, Mumps virus, Virus dengue. + Tick-borne meningoencephalitis (viêm não do bọ ve),… 6 -Theo ái tính của virus tới vùng tổn thương thần kinh: Các virus gây viêm não rất khác nhau theo từng vùng địa lý, khí hậu và từng châu lục và cũng có ái tính khác nhau tới các phần của hệ thần kinh trung ương. -Theo phương thức tác nhân gây tổn thương hệ thần kinh trung ương: + Viêm não tiên phát: xảy ra do các tác nhân gây bệnh tác động trực tiếp vào nhu mô não gây tổn thương lan tỏa hay khu trú. Viêm não tiên phát có thể gây ra bởi virus đã nhiễm từ trước, tồn tại lâu dài trong cơ thể dưới dạng không hoạt động và trở lại hoạt động trong điều kiện bị kích hoạt vì một nguyên nhân không rõ hoặc cơ thể vật chủ bị suy giảm miễn dịch.