Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên thế giới và ở Việt Nam, chủ đề về CSSK và TCSSK đã và đang được nhiều học giả từ các lĩnh vực y tế công cộng, tâm lý học, khoa học hành vi, công tác xã hội, xã hội học…quan tâm nghiên cứu. Không chỉ giới hạn ở nhóm bệnh nhân mạn tính và người cao tuổi như những nghiên cứu trước đây, trong những năm gần đây các nghiên cứu về TCSSK quan tâm nhiều hơn đến các nhóm dân cư trong trạng thái sức khoẻ bình thường. Có thể kể đến như: nhóm thanh niên, những chuyên gia trong lĩnh vực CSSK, người tuổi trung niên, trong đó bao gồm PNTTN.
Có nghĩa là các nghiên cứu đang hướng đến đánh giá hoạt động TCSSK ở giai đoạn phòng ngừa. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những chiến lược giúp các cá nhân nâng cao sức khoẻ bản thân, thích ứng với những thay đổi về môi trường, khí hậu, dịch bệnh như hiện nay. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành tổng quan những nội dung chính sau: (1) Những nghiên cứu về các hoạt động TCSSK; (2) Những nghiên cứu về rào cản đối với hoạt động tự chăm sóc sức khoẻ; (3) Những nghiên cứu về nguồn lực đối với hoạt động tự chăm sóc sức khoẻ (4) Những nghiên cứu về vai trò của CTXH Y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Những nghiên cứu về các hoạt động tự chăm sóc sức khỏe 1.
Những nghiên cứu về hoạt động tự chăm sóc sức khoẻ thể chất Tự chăm sóc sức khỏe thể chất là một trong những nội dung được các tác giả nghiên cứu nhiều nhất cả trên thế giới và Việt Nam. Tự chăm sóc thể chất bao gồm: các thực hành dinh dưỡng cơ bản, tuân theo một chế độ ăn uống thích hợp, vệ sinh, tập thể dục thường xuyên, thăm khám sức khoẻ, tránh các hành vi có nguy cơ cao và sử dụng ma túy, bảo vệ bản thân trước các tai nạn và chú ý đến các số đo cơ thể [Cook-cotton & Guyker, 2017; Pullen, Walker, & Fiandt, 2001]. * Về khía cạnh chăm sóc dinh dưỡng và luyện tập thể chất Nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau với nhóm khách thể là phụ nữ đều cho kết quả là: các nhóm hành vi nâng cao sức khoẻ liên quan đến khía cạnh chăm sóc dinh dưỡng được các khách thể thực hiện với tần suất, điểm số cao nhất; và thấp nhất là khía cạnh hoạt động thể chất [Pullen và cộng sự, 2001; Hulme và 14 cộng sự, 2003; Park, Kwon & Oh, 2009; Edrisi và cộng sự, 2013; Asrami, Hamzehgardeshi, & Shahhosseini, 2016]. Trong một số nghiên cứu với nhóm người cao tuổi và trung niên cho biết những hoạt dinh dưỡng thực hiện lối sống lành mạnh thường được thực hiện là: uống hơn 7 cốc nước mỗi ngày; ăn nhiều hơn trái cây hoặc rau quả, ăn ít thịt và ăn thực phẩm ít chất béo [Mohamadi và cộng sự, 2015; Clark, 1998; Cook-Cottone 2015].
Một số người uống vitamin và khoáng chất, bao gồm vitamin B, C, E, canxi hoặc một loại vitamin đa lượng [Clark, 1998]. Các vấn đề như giảm lượng đường, ăn uống không đủ hoặc thừa năng lượng, thiếu hụt chất dinh dưỡng (tức là lượng sắt thấp, lượng vitamin D và B12 thấp) đều được xác định là có liên quan đến tâm trạng, cảm giác hạnh phúc và có thể là rối loạn điều hòa [Beydoun, 2014; Brown và Gerbarg 2015]. Phụ nữ trung niên cho biết họ thực hành hành vi ăn uống theo nhu cầu bản thân thay vì để làm hài lòng người khác; họ cố gắng ăn uống đúng cách và khoa học [Hartweg, 1996]. Về các hoạt động vận động thể chất, kết quả từ các nghiên cứu chỉ ra rằng: các cá nhân chủ yếu thực hiện là đi bộ nhiều hơn 3h/tuần; tập thể dục thường xuyên hơn 3h/tuần [Mohamadi và cộng sự, 2015].
Phụ nữ trung niên cũng cho biết họ tham gia các môn thể dục nhịp điệu 2 lần/tuần, khiêu vũ Mexico, múa ba lê; Đi bộ 3 lần mỗi tuần khoảng một giờ để làm sạch phổi và giúp xương hông tốt hơn [Hartweg, 1996]. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng người lớn từ 18-64 tuổi nên tập thể dục aerobic cường độ trung bình ít nhất 150 phút trong suốt cả tuần với thời lượng ít nhất 10 phút để giảm nguy cơ. Để có thêm lợi ích, người lớn nên tăng hoạt động thể chất lên 300 phút một tuần và tập luyện cơ bắp nên được thực hiện ít nhất hai ngày hoặc nhiều hơn một tuần [WHO, 2017]. Đa số phụ nữ trung niên trong một nghiên cứu ở Thái Lan bắt đầu tự chăm sóc bản thân khi họ cảm thấy không khỏe mạnh.
Một số người tăng cường các hoạt động thể chất; một số khác chọn cải thiện dinh dưỡng; cũng có người chọn cách tăng thời gian nghỉ ngơi và thư giãn. Một số người cảm thấy không khỏe, cho rằng sức khỏe của họ đang ở mức độ nghiêm trọng, và họ tìm đến sự chăm sóc chuyên nghiệp [Arpanantikul, 2006]. Ở nhóm phụ nữ trung niên Mỹ gốc Mexico trong nghiên cứu 15 của Hartweg [1996] có 81% khách thể thực hiện các hành động chăm sóc thể chất đáp ứng các yêu cầu về tự chăm sóc cơ bản, 11% người đáp ứng các yêu cầu về tự chăm sóc phát triển (nâng cao hơn) liên quan đến tuổi trung niên. Những người được chăm sóc thể chất tốt hơn có xu hướng tận hưởng sức khỏe thể chất tích cực và do đó cải thiện sức khỏe tâm lý và nhận thức của họ [Hopkins và cộng sự, 2012].
Tuy nhiên, ở nhóm bệnh nhân đang mắc bệnh mạn tính, những hoạt động TCSSK có thể bị giảm sút. Chẳng hạn: những bệnh nhân tâm thần phân liệt ít có thói quen dinh dưỡng tích cực và ít thực hiện hành vi tăng cường sức khoẻ. Sức khoẻ của họ không nằm trong tầm kiểm soát của họ. Thói quen tiêu cực nhất của nhóm này là hút thuốc lá, ăn quá nhiều và tiêu thụ rượu quá mức [Holmberg and Kane, 1999].
Với một số nhóm người trung niên và cao tuổi bị bệnh, các khuyến cáo về chăm sóc sức khỏe thể chất được đưa ra là: giữ ấm, nghỉ ngơi đầy đủ và ăn những thức ăn tốt; tránh sử dụng rượu bia, hút thuốc và sử dụng ma túy [Jenerette, Brewer và Leak, 2011]. Thói quen ăn uống và chế độ dinh dưỡng là nội dung quan trọng trong chăm sóc thể chất ở mỗi cá nhân. Kiểm soát chế độ ăn uống cũng là nội dung được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Saidi [2015] đối với những bệnh nhân tiểu đương tuýp 2 ở Malaysia. Với nhóm người bị bệnh, khả năng tự chăm sóc của họ giảm sút rõ rệt, điều này cũng được các nghiên cứu chỉ ra rõ ràng.
Chẳng hạn, ở nhóm người trung niên và cao niên bị bệnh chỉ có 34,5% người tham gia có khả năng tự chăm sóc tốt [Mohamadi và cộng sự, 2015]. Hay với bệnh nhân suy tim tại Việt Nam trong nghiên cứu của Bùi Thị Hậu và cộng sự [2021] có 87,7% người bệnh không biết cách tự chăm sóc, có 78,6% người bệnh có điểm duy trì tự chăm sóc thấp và 72,7% người bệnh có điểm tự tin tự chăm sóc đạt dưới 70 điểm. Tự chăm sóc thể chất cũng là khía cạnh được quan tâm ở những người thuộc đội ngũ chăm sóc, chuyên gia hỗ trợ như: phụ huynh có con mắc bệnh tự kỷ, người chăm sóc bệnh nhân, chuyên gia điều trị ung thư và nhân viên CTXH [Gorsky, 2014; Ashford, 2014; Cotter, 2013; Kelly và Okolo, 2016; Lee & Miller, 2013]. Đối với nhân viên CTXH, các chiến lược hỗ trợ tự chăm sóc sức khoẻ được nhằm mục tiêu tối ưu hoá chức năng và sự an toàn thể chất.
Trong đó nhấn mạnh đến hoạt động thể chất, ngủ đủ giấc, lựa chọn dinh dưỡng lành mạnh và phòng ngừa bệnh tật nói chung [Lee & Miller, 2013]. 16 Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về khía cạnh chăm sóc thể chất. Một nghiên cứu trên nhóm khách thể 40-59 tuổi cho biết kiến thức chung của nhóm khách thể về một số kiến thức TCSSK còn khá hạn chế. Từ đó dẫn đến tỷ lệ sử dụng chất kích thích ở nhóm này còn cao (28,2% hút thuốc; hơn 35% sử dụng bia rượu trong 30 ngày trước khảo sát).
Người trung niên hoạt động thể lực trung bình/ngày là 57,26 ± 35,88 phút và 45,49 ± 30,01 phút ở nam và nữ [Đỗ Thái Hòa và cộng sự, 2013]. Kết quả từ một cuộc khảo sát online do Công ty W&S Vietnam Market Research thực hiện [2015] về quan điểm CSSK của người dân Việt Nam cho biết: 79,1% khách thể nhận định rằng người có sức khỏe tốt là người có sức đề kháng cao, hiếm khi bị bệnh và luôn luôn vui vẻ. Tinh thần thoải mái là yếu tố quan trọng nhất (92,3% người lựa chọn), tiếp đến là không khí trong lành và chế độ dinh dưỡng hợp lý. 86,5% người được hỏi cho rằng ăn đủ bữa là hoạt động tốt cho sức khỏe, tiếp theo là ngủ đủ giấc và chơi thể thao.
Các thực phẩm được cho là tốt cho sức khỏe gồm rau xanh, trái cây tươi, cá và trứng. Tất cả mọi người đều đồng ý nước lọc là quan trọng và cần cho mỗi ngày. 80,4% đánh giá hoạt động đi bộ có lợi cho sức khỏe. Và trong số 607 người tham gia khảo sát có 82,9% tự đánh giá mình rất quan tâm đến sức khỏe bản thân.
* Về khía cạnh khả năng nhận biết tình trạng sức khoẻ và xử lý khi đau ốm Khả năng nhận biết về tình trạng sức khỏe bản thân là một trong những nội dung quan trọng của TCSSK phòng ngừa. Đôi khi việc nhận biết này là khởi nguồn hoặc là động lực để mỗi cá nhân suy nghĩ về sự tự chăm sóc cho bản thân mình. Một số nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Nhận thức về tình trạng sức khoẻ và bệnh tật là quan trọng đối với PNTTN. Đây cũng là hoạt động bắt đầu một tiến trình TCSSK.
Khỏe mạnh có nghĩa là họ có thể làm việc, không khỏe là khi họ không thể đi làm và cảm thấy mệt mỏi, cần ngủ cả ngày. Khi phụ nữ nhận ra rằng sức khoẻ của họ đã lệch khỏi tình trạng bình thường hoặc khác với những người xung quanh, tức là họ đã bị ốm. Sau đó họ bắt đầu suy nghĩ về sự tự chăm sóc và thực hiện chúng một cách tích cực hơn. Hiểu biết về sức khoẻ và bệnh tật dẫn dắt họ đến những hành vi để duy trì và cải thiện sức khỏe (thể chất và tinh thần) [Arpanantikul, 2006; Ghajaei, 2017].
Ngoài ra, kinh nghiệm TCSSK của các nhóm PNTTN cũng khác nhau dựa trên đặc thù văn hoá của mỗi quốc gia cũng như đặc điểm nhân khẩu 17 của mỗi cá nhân.