Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số: 9760101.01) của tác giả Lương Bích Thủy, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thu Hà tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2022, mang tên: "Tự chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ tuổi trung niên: tiếp cận Công tác xã hội (Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh)".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh các thách thức về môi trường, dịch bệnh và biến đổi xã hội gia tăng, sức khỏe trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi cá nhân và cộng đồng. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định sức khỏe là vốn quý nhất của con người và xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững. Công tác xã hội (CTXH) với chức năng phòng ngừa giữ vai trò thúc đẩy các hành vi tự chăm sóc sức khỏe (TCSSK) chủ động, giúp giảm chi phí y tế và giảm tải cho các bệnh viện.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, các mô hình CTXH y tế chủ yếu tập trung hỗ trợ bệnh nhân điều trị và phục hồi trong bệnh viện, trong khi mảng thực hành CTXH y tế công cộng tại cộng đồng còn hạn chế. Phụ nữ tuổi trung niên (40–60 tuổi) là nhóm dân cư dễ bị tổn thương về mặt sức khỏe khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, đối mặt với nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính không lây (loãng xương, ung thư, tim mạch) và các rối loạn tâm lý (tỷ lệ trầm cảm quanh tuổi mãn kinh tại Việt Nam ghi nhận ở mức 38% theo khảo sát của Bệnh viện Từ Dũ). Mặc dù các nghiên cứu về tự chăm sóc đã xuất hiện nhiều trên thế giới, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về TCSSK ở phụ nữ tuổi trung niên tại Việt Nam dưới lăng kính Công tác xã hội – đặt hành vi cá nhân trong mối tương tác với môi trường sinh thái xã hội – vẫn còn khoảng trống lớn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ thực trạng TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên, đánh giá tác động của các yếu tố rào cản, nguồn lực và dịch vụ CTXH đối với hoạt động này; từ đó đề xuất các khuyến nghị nâng cao năng lực TCSSK cho phụ nữ trung niên và phát huy vai trò của CTXH trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu về TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên.
- Phân tích thực trạng TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên theo ba khía cạnh: thể chất, tinh thần và xã hội.
- Đánh giá các yếu tố rào cản đối với hoạt động TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên.
- Đánh giá các nguồn lực hỗ trợ đối với hoạt động TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên.
- Đánh giá các dịch vụ CTXH hiện có trong hỗ trợ phụ nữ tuổi trung niên TCSSK.
- Đưa ra một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả TCSSK cho phụ nữ tuổi trung niên từ góc độ CTXH.
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng TCSSK ở phụ nữ tuổi trung niên hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố rào cản nào tác động đến hoạt động TCSSK của phụ nữ tuổi trung niên?
- Những nguồn lực hỗ trợ phụ nữ tuổi trung niên TCSSK hiện nay ra sao?
- Các dịch vụ CTXH hiện có trong hỗ trợ phụ nữ tuổi trung niên TCSSK như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
- Phụ nữ tuổi trung niên thực hành TCSSK ở đầy đủ các khía cạnh sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội; tuy nhiên mức độ thực hiện không đồng đều ở các nhóm phụ nữ khác nhau tùy theo đặc điểm nhân khẩu xã hội.
- Những rào cản phụ nữ tuổi trung niên gặp phải trong việc tự CSSK bao gồm: thiếu thời gian, thiếu tài chính, thiếu kiến thức khoa học về tự CSSK, thiếu sự hỗ trợ khi cần thiết.
- Những nguồn lực tham gia hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động tự CSSK của phụ nữ tuổi trung niên là gia đình, bạn bè và một số nguồn lực khác như: các dịch vụ chăm sóc y tế, các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức và kỹ năng về tự CSSK, hệ thống chính sách y tế.
- Có sự xuất hiện của các dịch vụ Công tác xã hội tham gia trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng; tuy nhiên, vai trò của CTXH trong hỗ trợ phụ nữ tuổi trung niên CSSK còn chưa rõ rệt.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tự chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ tuổi trung niên từ tiếp cận Công tác xã hội.
- Khách thể nghiên cứu:
- 512 phụ nữ tuổi trung niên tham gia khảo sát bảng hỏi định lượng và 18 phụ nữ tuổi trung niên tham gia phỏng vấn sâu.
- 06 thành viên gia đình phụ nữ trung niên (chồng, con đang sống cùng hoặc không sống cùng).
- 06 thành viên thuộc nhóm hỗ trợ liên ngành tại địa phương (02 nhân viên CTXH, 02 nhân viên y tế thôn/tổ dân phố, 02 cán bộ Hội phụ nữ).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Thực hiện từ năm 2017 đến năm 2021.
- Không gian: Thành phố Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh (hai địa bàn đại diện cho khu vực đô thị và nông thôn phát triển, có hệ thống dịch vụ y tế và mạng lưới CTXH phân tầng).
- Nội dung: Luận án tập trung vào hành vi TCSSK cấp độ cá nhân ở giai đoạn phòng ngừa (thể chất, tinh thần, xã hội), các yếu tố rào cản, nguồn lực và hệ thống dịch vụ CTXH trợ giúp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo 4 nhóm chủ đề lớn, phản ánh toàn diện các nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến đề tài:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghiên cứu hoạt Nghiên cứu rào cản Nghiên cứu nguồn lực Nghiên cứu CTXH
động TCSSK TCSSK TCSSK trong YTCC & CSSKBĐ
- Thể chất - Nhận thức, tâm lý - Gia đình, bạn bè - Vai trò liên ngành
- Tinh thần/xã hội - Kinh tế, thời gian, gia đình - Cán bộ y tế - Quản lý ca, tư vấn
- Tìm kiếm DV - Dịch vụ, văn hóa - Chính sách, xã hội - Rào cản thực hành
1. Các nghiên cứu về hoạt động tự chăm sóc sức khỏe
- TCSSK thể chất: Các công trình của Pullen, Walker & Fiandt (2001), Hulme và cộng sự (2003), Park, Kwon & Oh (2009), Edrisi và cộng sự (2013), Asrami, Hamzehgardeshi & Shahhosseini (2016) đều ghi nhận xu hướng phụ nữ thực hiện chăm sóc dinh dưỡng với điểm số cao nhất, trong khi hoạt động thể chất đạt mức thấp nhất. Hartweg (1996) chỉ ra 81% phụ nữ trung niên Mỹ gốc Mexico đáp ứng yêu cầu tự chăm sóc cơ bản và 11% đạt mức tự chăm sóc phát triển. Tại Việt Nam, Đỗ Thái Hòa và cộng sự (2013) ghi nhận thời gian vận động thể lực trung bình ở người trung niên nữ là 45,49 ± 30,01 phút/ngày; khảo sát của W&S (2015) cho thấy 82,9% người dân tự đánh giá quan tâm đến sức khỏe bản thân nhưng hành vi khám sức khỏe định kỳ còn hạn chế (khảo sát của Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM năm 2015 chỉ ra 40% người lao động tự do chưa từng đi khám sức khỏe). Hiện tượng tự mua thuốc điều trị khi đau ốm tại Việt Nam còn phổ biến (Bộ Y tế, 2003; WHO, 2015).
- TCSSK tinh thần và xã hội: Cook-Cottone & Guyker (2015, 2017, 2018) đưa ra khung tiếp cận tự chăm sóc có chánh niệm (Mindful Self-Care), tích hợp nhận thức tâm trí, tự thấu cảm và thư giãn. Các nghiên cứu của Neff (2003), Feng và cộng sự (2019), Wong (2020) chứng minh tự thấu cảm giúp giảm thiểu nguy cơ trầm cảm và lo âu. Các kỹ thuật thư giãn như phản ứng thư giãn Benson (Galvin et al., 2006; Reig-Ferrer et al., 2014), thư giãn cơ bắp (Yu et al., 2007) được chứng minh giúp cân bằng tâm lý. Về khía cạnh xã hội, Lee & Miller (2013) và Hartweg (1993) nhấn mạnh việc duy trì mạng lưới quan hệ xã hội, giao lưu bạn bè và tham gia hoạt động thiện nguyện mang lại mức độ thỏa mãn cuộc sống cao hơn.
- Tìm kiếm thông tin và dịch vụ y tế: Lambert & Loiselle (2007), Weaver và cộng sự (2010), Jacobs, Amuta & Jeon (2017) khảo sát sự chuyển dịch từ các nguồn truyền thông truyền thống sang không gian Internet và mạng xã hội, đồng thời lưu ý nguy cơ bất bình đẳng tiếp cận thông tin y tế ở nhóm yếu thế.
2. Các nghiên cứu về rào cản đối với tự chăm sóc sức khỏe
Các rào cản đối với phụ nữ trung niên được Arpanantikul (2006), Perrig-Chiello và cộng sự (2008), Gorsky (2014) phân tích bao gồm: gánh nặng vai trò kép gia đình - xã hội, thiếu thời gian, thiếu người hỗ trợ, mệt mỏi thể xác và rào cản tâm lý (thiếu tự tin, tâm lý "cảm giác khỏe mạnh" chủ quan như Saidi, 2015 chỉ ra). Ngoài ra, các yếu tố tài chính, chi phí y tế không được bảo hiểm chi trả (Baumann & Dang, 2012) và tương tác chưa hiệu quả với nhân viên y tế (Siabani et al., 2013) là những rào cản phổ biến.
3. Các nghiên cứu về nguồn lực hỗ trợ tự chăm sóc sức khỏe
Nguồn lực vi mô từ người chồng, con cái và người thân được chứng minh giữ vai trò then chốt (Yukashko & Chronister, 2005; Namazi, Sadeghi & Moghadam, 2019; Vũ Duy Chính, 2020). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức, Bùi Thị Hồng Thái & Ngô Xuân Điệp (2016), Hoàng Mộc Lan & Trịnh Thị Linh (2019) khẳng định cấu trúc gia đình truyền thống sống gần gũi tạo điều kiện tối ưu để hỗ trợ tinh thần và vật chất. Nguồn lực từ cán bộ y tế (Arpanantikul, 2004) giúp nâng cao kiến thức và thúc đẩy tuân thủ hành vi chăm sóc sức khỏe.
4. Các nghiên cứu về Công tác xã hội trong Y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu
Hopkins (1926), Ruth & Marshall (2017) khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa CTXH và y tế công cộng. Fraser và cộng sự (2018) hệ thống hóa 3 vai trò chính của nhân viên CTXH trong nhóm liên ngành CSSK ban đầu: (1) chuyên gia sức khỏe hành vi, (2) người quản lý ca, và (3) chuyên gia tham gia cộng đồng. Ashcroft và cộng sự (2018) chỉ ra thực tế tại Ontario (Canada) khi 76% nhân viên CTXH làm việc đúng phạm vi, nhưng 24% gặp khó khăn do thiếu thời gian và danh sách chờ đợi kéo dài.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào nhóm người cao tuổi hoặc bệnh nhân mắc bệnh mạn tính ở giai đoạn điều trị; rất ít công trình nghiên cứu riêng về phụ nữ tuổi trung niên khỏe mạnh ở giai đoạn phòng ngừa chủ động.
- Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận dưới góc độ y học thuần túy hoặc tâm lý học hành vi đơn lẻ, thiếu vắng nghiên cứu từ chuyên ngành Công tác xã hội xem xét tương tác đa chiều giữa cá nhân và hệ thống sinh thái xã hội (gia đình, cộng đồng, chính sách).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm công cụ
- Sức khỏe: Tiếp cận định nghĩa của WHO (1946), sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay thương tật.
- Tự chăm sóc sức khỏe (TCSSK): Định nghĩa của tác giả luận án: "Tự chăm sóc sức khỏe là khả năng của cá nhân nhận thức về sức khoẻ bản thân, chủ động thực hành các hoạt động để duy trì trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần, xã hội, hướng đến phòng ngừa và ứng phó với đau ốm, bệnh tật."
- Phụ nữ tuổi trung niên: Nhóm nữ giới trong độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi.
- Tiếp cận Công tác xã hội: Khung nhìn nhận vấn đề đặt cá nhân trong môi trường xã hội, hướng đến trao quyền, phát huy điểm mạnh (nội lực, ngoại lực) và thực hiện chức năng phòng ngừa thông qua kết nối dịch vụ liên ngành.
Khung lý thuyết ứng dụng
- Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM): Sử dụng để giải thích cách thức nhận thức của phụ nữ trung niên về tính nhạy cảm với bệnh tật, mức độ nghiêm trọng của bệnh, lợi ích nhận thấy của hành vi TCSSK và các rào cản nhận thấy tác động trực tiếp đến quyết định thực hành tự chăm sóc.
- Lý thuyết Hệ sinh thái của Urie Bronfenbrenner: Phân tích các yếu tố tác động đến hành vi TCSSK theo các cấp độ hệ thống:
- Hệ vi mô (Microsystem): Bản thân người phụ nữ, người chồng, con cái, bạn bè thân thiết.
- Hệ trung mô (Mesosystem) & Ngoại vi (Exosystem): Trạm y tế, Hội phụ nữ, cơ quan làm việc, hàng xóm, các phương tiện truyền thông y tế.
- Hệ vĩ mô (Macrosystem) & Thời đại (Chronosystem): Quan điểm văn hóa - giới, chính sách bảo hiểm y tế, pháp luật y tế công cộng, bối cảnh công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
| Thành phần khung phân tích |
Nội dung chi tiết được khảo sát trong luận án |
| Hoạt động TCSSK thể chất |
Chăm sóc dinh dưỡng; luyện tập thể chất; kiểm soát chỉ số sức khỏe thông thường (BMI, huyết áp); nhận biết dấu hiệu bệnh và xử lý khi đau ốm. |
| Hoạt động TCSSK tinh thần |
Thực hành nhận thức tâm trí; tự thấu cảm và nhân ái; thư giãn tâm trí; cách thức giải tỏa căng thẳng và xử lý rối nhiễu tinh thần. |
| Hoạt động TCSSK xã hội |
Chăm sóc và duy trì các mối quan hệ hỗ trợ; cân bằng các vai trò xã hội; duy trì môi trường sống thoải mái, hòa hợp. |
| Các nhóm rào cản |
(1) Rào cản từ bản thân (nhận thức, thói quen, tâm lý); (2) Rào cản điều kiện kinh tế, thời gian, trách nhiệm gia đình; (3) Rào cản dịch vụ y tế, văn hóa giới, thông tin. |
| Các nhóm nguồn lực |
(1) Nguồn lực vi mô (gia đình, bạn bè); (2) Nguồn lực trung mô/ngoại vi (cộng đồng, cơ quan, y tế cơ sở); (3) Nguồn lực vĩ mô/thời đại (chính sách, truyền thông). |
| Dịch vụ Công tác xã hội |
Đánh giá tâm lý - xã hội; quản lý ca; tham vấn; kết nối nguồn lực cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe ban đầu. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính:
- Phương pháp định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi chuẩn hóa cấu trúc trên mẫu $N = 512$ phụ nữ tuổi trung niên (40–60 tuổi) tại Hà Nội và Quảng Ninh. Sử dụng thang đo Tự chăm sóc có Chánh niệm (Mindful Self-Care Scale - MSCS) của Cook-Cottone & Guyker để đo lường các khía cạnh tự chăm sóc. Xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình ĐTB, độ lệch chuẩn ĐLC), kiểm định so sánh nhóm ($t$-test, ANOVA), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dự báo ảnh hưởng của rào cản và nguồn lực đến hành vi TCSSK.
- Phương pháp định tính: Tiến hành 30 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân:
- 18 phụ nữ tuổi trung niên đại diện cho các nhóm tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và khu vực cư trú (thành thị, nông thôn).
- 06 người thân trong gia đình (chồng, con).
- 06 cán bộ nhóm liên ngành tại địa phương (02 nhân viên CTXH, 02 cán bộ y tế cơ sở, 02 cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ).
- Địa bàn nghiên cứu: Thành phố Hà Nội (đại diện cho trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với hệ thống CTXH bệnh viện phát triển) và tỉnh Quảng Ninh (địa bàn có đặc thù công nghiệp - du lịch - nông thôn, sở hữu mạng lưới Trung tâm Công tác xã hội cấp tỉnh/huyện đồng bộ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam về hoạt động tự chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội; hành vi tìm kiếm thông tin và tiếp cận dịch vụ y tế; các rào cản và nguồn lực trợ giúp TCSSK. Chương này phân tích chi tiết vai trò của CTXH trong y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu với 3 vị trí cốt lõi: chuyên gia sức khỏe hành vi, nhân viên quản lý ca và chuyên gia kết nối cộng đồng (theo Fraser et al., 2018). Đồng thời, tác giả xác lập hai khoảng trống nghiên cứu chính: sự khan hiếm các công trình nghiên cứu riêng về phụ nữ tuổi trung niên khỏe mạnh ở giai đoạn phòng ngừa và sự thiếu hụt cách tiếp cận sinh thái xã hội từ chuyên ngành Công tác xã hội tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Chương 2 chuẩn hóa hệ thống khái niệm nòng cốt (Sức khỏe, CSSKBĐ, Tự chăm sóc sức khỏe, Phụ nữ tuổi trung niên 40–60 tuổi, NVCTXH, Dịch vụ CTXH, Tiếp cận CTXH). Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) và Lý thuyết Hệ thống Sinh thái của Bronfenbrenner. Chương này phân tích các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về CSSK toàn dân, CSSK phụ nữ và quy định phát triển nghề CTXH trong ngành y tế; đồng thời trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu định lượng ($N=512$), mẫu định tính ($N=30$), quy chuẩn thang đo MSCS, quy trình xử lý dữ liệu và đặc điểm kinh tế - xã hội của hai địa bàn Hà Nội và Quảng Ninh.
Chương 3: Thực trạng tự chăm sóc sức khỏe của phụ nữ tuổi trung niên tại Hà Nội và Quảng Ninh
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực chứng về thực trạng TCSSK theo ba trục nội dung:
- Tình trạng sức khỏe và nhận thức: Đa số phụ nữ trung niên nhận thức rõ tầm quan trọng của việc chủ động chăm sóc bản thân, tuy nhiên vẫn tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành vi thực tế.
- Thực hành chăm sóc sức khỏe thể chất: Khía cạnh dinh dưỡng (ăn nhiều rau xanh, uống đủ nước, giảm chất béo) được thực hiện tốt nhất; hoạt động thể dục thể thao còn hạn chế về tính duy trì thường xuyên. Tỷ lệ tự kiểm soát chỉ số sức khỏe định kỳ (huyết áp, đường huyết, BMI) có sự phân hóa theo trình độ học vấn và nghề nghiệp. Khi đau ốm, thói quen tự mua thuốc tại hiệu thuốc gần nhà hoặc tự chữa trị theo kinh nghiệm dân gian vẫn chiếm tỷ lệ cao; việc đi khám tại các cơ sở y tế chuyên sâu chỉ diễn ra khi bệnh chuyển biến nặng. Nhóm phụ nữ làm việc trong khu vực nhà nước có tần suất khám sức khỏe định kỳ cao hơn nhóm lao động tự do và nông nghiệp.
- Thực hành chăm sóc sức khỏe tinh thần và xã hội: Các hoạt động nhận thức tâm trí, tự thấu cảm và thư giãn (nghe nhạc, đọc sách, làm vườn, đi bộ cùng bạn bè) được phụ nữ áp dụng để giải tỏa căng thẳng. Tuy nhiên, khả năng nhận diện các dấu hiệu trầm cảm, lo âu tiền mãn kinh còn thấp; phụ nữ có xu hướng tự chịu đựng hoặc chia sẻ trong phạm vi hẹp thay vì tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn tâm lý. Về mặt xã hội, phụ nữ trung niên nỗ lực duy trì các mối quan hệ gia đình, họ hàng và bạn bè đồng lứa, coi đây là điểm tựa cảm xúc quan trọng.
Chương 4: Những rào cản, nguồn lực và dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ phụ nữ tuổi trung niên tự chăm sóc sức khỏe
Chương 4 phân tích các yếu tố tác động và hiện trạng dịch vụ trợ giúp:
- Các rào cản: Phân tích định lượng và hồi quy chỉ ra 3 nhóm rào cản chính:
- Rào cản từ bản thân: Thói quen sinh hoạt cũ khó bỏ, sự thiếu hụt kiến thức khoa học chuyên sâu, tâm lý chủ quan khi thấy bản thân "vẫn ổn".
- Rào cản điều kiện kinh tế, thời gian và gia đình: Áp lực công việc mưu sinh, gánh nặng chăm sóc thế hệ con cái và bố mẹ già (vai trò người chăm sóc), quỹ thời gian dành cho bản thân bị thu hẹp.
- Rào cản dịch vụ, văn hóa và thông tin: Chi phí khám dịch vụ cao, quá tải tại các bệnh viện lớn, thông tin sức khỏe trên mạng xã hội bị nhiễu loạn, định kiến văn hóa giới đặt sự hy sinh của phụ nữ lên trên nhu cầu cá nhân.
- Các nguồn lực hỗ trợ: Nguồn lực gia đình (sự đồng hành, chia sẻ của người chồng và con cái) có tương quan thuận mạnh nhất đến mức độ thực hành TCSSK của phụ nữ. Nguồn lực từ bạn bè, câu lạc bộ thể thao/dưỡng sinh tại địa phương và mạng lưới thông tin y tế cơ sở đóng vai trò hỗ trợ tích cực.
- Dịch vụ Công tác xã hội: Dịch vụ CTXH hiện diện chủ yếu ở các bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố và các trung tâm bảo trợ xã hội; hoạt động CTXH y tế công cộng tại tuyến xã/phường hầu như chưa định hình rõ nét. Phụ nữ trung niên tại cộng đồng còn rất ít cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tư vấn tâm lý, quản lý ca sức khỏe hay các chương trình giáo dục truyền thông kỹ năng tự chăm sóc do nhân viên CTXH chuyên nghiệp đảm nhiệm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về tự chăm sóc sức khỏe dưới góc độ Công tác xã hội, xây dựng hệ khái niệm hoàn chỉnh: Tự chăm sóc sức khỏe, Phụ nữ tuổi trung niên, Tự chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ tuổi trung niên trong giai đoạn phòng ngừa.
- Thiết lập thành công khung phân tích tích hợp giữa Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) và Lý thuyết Hệ thống Sinh thái (Bronfenbrenner), cung cấp một khung công cụ lý thuyết đa tầng giúp giải thích hành vi sức khỏe của phụ nữ trung niên đặt trong sự tương tác giữa các hệ thống vi mô, trung mô, ngoại vi, vĩ mô và thời đại.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện dựa trên bằng chứng khoa học ($N=512$ định lượng và $N=30$ định tính) về thực trạng hành vi chăm sóc thể chất, tinh thần và xã hội của phụ nữ tuổi trung niên tại hai địa bàn đại diện Hà Nội và Quảng Ninh.
- Lượng hóa và kiểm định mối quan hệ tương quan, hồi quy giữa các nhóm rào cản (bản thân, kinh tế - gia đình, dịch vụ - văn hóa) và các nhóm nguồn lực (vi mô, trung mô, vĩ mô) đối với từng khía cạnh hành vi TCSSK cụ thể.
- Chỉ ra thực trạng "khoảng trống dịch vụ" CTXH trong mạng lưới y tế công cộng và chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến cộng đồng dành cho phụ nữ tuổi trung niên.
Hệ thống khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cấp độ chính sách và quản lý y tế:
- Hoàn thiện khung pháp lý về vị trí việc làm của nhân viên CTXH trong mạng lưới y tế cơ sở (trung tâm y tế quận/huyện và trạm y tế xã/phường).
- Tăng cường bảo hiểm y tế cho các gói khám sức khỏe định kỳ và tầm soát sớm bệnh mạn tính, bệnh phụ khoa cho phụ nữ trung niên tại cộng đồng.
- Đối với thực hành Công tác xã hội:
- Xây dựng mô hình can thiệp nhóm và quản lý ca dựa vào cộng đồng, tập trung vào nâng cao năng lực tự chăm sóc chánh niệm, quản lý căng thẳng và dinh dưỡng hợp lý cho phụ nữ.
- Ứng dụng nguyên tắc trao quyền và phát huy điểm mạnh: biến phụ nữ trung niên từ người thụ hưởng bị động thành chủ thể tích cực quản lý sức khỏe của chính mình và gia đình.
- Phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa nhân viên CTXH, nhân viên y tế thôn/tổ và Hội phụ nữ trong việc tổ chức các chương trình giáo dục sức khỏe sớm.
- Đối với gia đình và cộng đồng:
- Đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình, khuyến khích người chồng và con cái chia sẻ việc nhà để tạo quỹ thời gian cho phụ nữ tự chăm sóc.
- Phát triển các không gian sinh hoạt thể thao, câu lạc bộ văn hóa - sức khỏe phù hợp với phụ nữ trung niên tại địa bàn dân cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa chỉ tập trung tại hai tỉnh/thành phố phía Bắc là Hà Nội và Quảng Ninh, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội và dịch vụ y tế phát triển tương đối cao, do đó chưa đại diện cho các vùng sâu, vùng xa hoặc khu vực miền Trung, miền Nam.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung khảo sát hành vi TCSSK ở cấp độ cá nhân trong giai đoạn phòng ngừa ban đầu; chưa đi sâu nghiên cứu các can thiệp lâm sàng chuyên biệt cho nhóm phụ nữ đang mắc các bệnh mạn tính giai đoạn nặng hoặc các rối loạn tâm thần phức tạp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát ra các khu vực địa lý khác (vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc) để so sánh yếu tố văn hóa tộc người và điều kiện vùng miền tác động đến TCSSK.
- Triển khai các nghiên cứu can thiệp thực nghiệm (experimental/action research) áp dụng thử nghiệm các mô hình nhóm hỗ trợ tự chăm sóc có chánh niệm do nhân viên CTXH điều phối tại trạm y tế xã/phường nhằm đánh giá hiệu quả định lượng trước và sau can thiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học, Y tế công cộng; đặc biệt hữu ích khi tham khảo về quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp, khung phân tích sinh thái xã hội và bộ thang đo Tự chăm sóc có Chánh niệm (MSCS).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế, Công tác xã hội với phụ nữ, Hành vi con người và môi trường xã hội.
- Nhân viên CTXH và cán bộ y tế cơ sở: Tham khảo cơ sở thực tiễn để thiết kế các bảng kiểm đánh giá nhu cầu, kế hoạch quản lý ca và các chương trình truyền thông nâng cao sức khỏe ban đầu tại trạm y tế, trung tâm y tế.
- Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ và nhà hoạch định chính sách: Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm của luận án để xây dựng các đề án hỗ trợ phụ nữ chăm sóc sức khỏe toàn diện, lồng ghép giới trong chính sách y tế dự phòng và phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định độ tuổi của phụ nữ tuổi trung niên là bao nhiêu và căn cứ vào đâu?
Luận án xác định phụ nữ tuổi trung niên là những người nữ trong độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi. Căn cứ này dựa trên sự tổng hợp các nghiên cứu phát triển tâm lý - xã hội của Trương Thị Khánh Hà (2013), Craig & Baucum (2004), Tsao, Su & An (2003) và Harweg (1993), phản ánh giai đoạn chuyển tiếp quan trọng gắn liền với các biến đổi sinh học tiền mãn kinh/mãn kinh và sự thay đổi vai trò gia đình - xã hội.
2. Khung phân tích lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên các lý thuyết nào?
Khung phân tích của luận án tích hợp hai lý thuyết nền tảng: Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model) để phân tích nhận thức cá nhân về lợi ích, rào cản và nguy cơ sức khỏe; kết hợp với Lý thuyết Hệ thống Sinh thái của Urie Bronfenbrenner để xem xét đa chiều các tác động từ hệ vi mô (bản thân, gia đình, bạn bè), hệ trung mô/ngoại vi (cộng đồng, trạm y tế, hội đoàn) đến hệ vĩ mô và thời đại (chính sách, văn hóa, công nghệ).
3. Mẫu khảo sát định lượng và định tính của luận án gồm những ai?
Mẫu nghiên cứu gồm:
- Định lượng: 512 phụ nữ tuổi trung niên sống tại cộng đồng ở TP. Hà Nội và tỉnh Quảng Ninh.
- Định tính (30 người): 18 phụ nữ tuổi trung niên, 06 thành viên gia đình (chồng, con) và 06 thành viên nhóm liên ngành (02 nhân viên CTXH, 02 nhân viên y tế cơ sở, 02 cán bộ Hội phụ nữ).
4. Khía cạnh tự chăm sóc nào được phụ nữ trung niên thực hiện tốt nhất và hạn chế nhất theo kết quả tổng quan?
Tổng quan tài liệu và dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng phụ nữ trung niên thực hiện tốt nhất các hành vi liên quan đến chăm sóc dinh dưỡng (chọn thực phẩm lành mạnh, ăn nhiều rau, uống đủ nước), trong khi hoạt động luyện tập thể lực thường xuyên và thói quen khám sức khỏe định kỳ để kiểm soát các chỉ số sinh học đạt mức độ thấp nhất.
5. Luận án chỉ ra ba vai trò chính nào của nhân viên Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ban đầu?
Dựa trên khung lý thuyết của Fraser và cộng sự (2018), ba vai trò nòng cốt của nhân viên CTXH gồm:
- Chuyên gia sức khỏe hành vi: Đánh giá tâm lý - xã hội ban đầu, tiến hành các can thiệp tâm lý ngắn hạn (trị liệu nhận thức hành vi, phỏng vấn tạo động lực).
- Nhân viên quản lý ca: Điều phối kế hoạch chăm sóc, hỗ trợ tuân thủ điều trị, kết nối giữa bệnh nhân, gia đình và nhân viên y tế.
- Chuyên gia tham gia cộng đồng: Vận động chính sách, biện hộ và kết nối các nguồn lực an sinh xã hội hỗ trợ người dân tại cơ sở.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lương Bích Thủy là công trình khoa học chuyên sâu, tiếp cận vấn đề tự chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ tuổi trung niên từ góc độ Công tác xã hội với trọng tâm đặt vào chức năng phòng ngừa dựa vào cộng đồng. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa Mô hình Niềm tin Sức khỏe và Lý thuyết Hệ thống Sinh thái, luận án đã làm rõ thực trạng thực hành sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội, đồng thời lượng hóa tác động của các rào cản và nguồn lực hỗ trợ tại Hà Nội và Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác xây dựng chính sách y tế công cộng, lồng ghép giới và phát triển mạng lưới dịch vụ Công tác xã hội chuyên nghiệp trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam.