CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 1. Khái niệm suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi được xem là "tình trạng chiều cao của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều cao theo tuổi" (Height/Age) thấp dưới -2 Z-scorre (hoặc dưới -2 SD so với chuẩn tăng trưởng của WHO 2006)". Thấp còi làm xương và tầm vóc chậm tăng trưởng, được xem là kết quả cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính.
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy “SDD trong giai đoạn mang thai và trong hai năm đầu đời của trẻ là giai đoạn đã lập trình cho khả năng của mỗi cá nhân trong việc điều tiết tăng trưởng và ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ”. Do đó, SDD trong hai năm đầu đời có thể đưa đến các tổn thương không thể phục hồi được cho sự phát triển của não, hệ miễn dịch và thể lực tăng trưởng (1). Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi bằng phương pháp nhân trắc học. Phương pháp nhân trắc học là phương pháp đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
Các phương pháp đánh giá nhân trắc học trẻ em <5 tuổi: Theo chỉ tiêu của WHO 2006, đo vòng cánh tay, chấm biểu đồ tăng trưởng. Hiện nay, chỉ số nhân trắc phổ biến để đánh giá tình trạng SDD trẻ em là chiều cao và cân nặng của trẻ dựa theo chỉ tiêu của WHO 2006 (2). Phân loại đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo tiêu chuẩn của WHO 1. Phân loại theo sức khỏe bản thân - SDD thể nhẹ cân (CN/T): cân nặng của trẻ em được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới tính của quần thể chuẩn.
Theo tiêu chuẩn của WHO: <- 2SD đến -3SD: SDD vừa (độ 1); <-3 đến -4SD: SDD nặng (độ 2); <-4SD: SDD rất 5 nặng (độ 3) (3). SDD thể nhẹ cân không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu. - SDD thể thấp còi (CC/T): chiều cao của trẻ em được so sánh với chiều cao của trẻ cùng tuổi, cùng giới tính của quần thể chuẩn. Theo tiêu chuẩn của WHO, chỉ tiêu chiều cao <-2SD phản ánh trẻ thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi (3).
Phân loại suy dinh dưỡng ở cộng đồng Bảng 1.1: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếu WHO với 3 chỉ số theo Z-Score Mức độ suy dinh dưỡng Chỉ tiêu ở cộng đồng (%) CN/T CC/T CN/CC Mức thấp < 10% < 20% < 5% Trung bình 10-19% 20-29% 5-9% Cao 20-29% 30-39% 10-14% Rất cao ≥ 30% ≥ 40% ≥ 15% 1. Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi SDD thấp còi làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tăng tỷ lệ mắc bệnh do nhiễm trùng (nhiễm trùng huyết, viêm màng não, lao và viêm gan, viêm phổi và tiêu chảy), mất khả năng tăng trưởng thể chất, giảm chức năng phát triển thần kinh và nhận thức và tăng nguy cơ mắc bệnh mãn tính như thừa cân, béo phì, đái tháo đường,tim mạch, tăng huyết áp… ở tuổi trưởng thành. Ở bé gái khi lớn lên nếu chiều cao thấp gây đẻ khó, nguy cơ sinh trẻ nhẹ cân (dưới 2500g), chiều cao thấp và vòng đời SDD thấp còi lại tái diễn (4). SDD thấp còi để lại những hậu quả kinh tế quan trọng đối với cả cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, chủ yếu là về năng suất lao động kém ở người trưởng thành.
Trẻ em thấp còi bị suy giảm khả năng phát triển hành vi trong giai đoạn đầu đời, ít đi 6 học hoặc đi học muộn, có xu hướng đạt điểm thấp hơn và khả năng nhận thức kém hơn so với trẻ không bị còi cọc. Trẻ thấp còi thường biểu hiện chậm phát triển các kỹ năng vận động như bò và đi bộ, thờ ơ và thể hiện hành vi khám phá giảm dần, tất cả đều làm giảm sự tương tác với người chăm sóc và môi trường (4). SDD thấp còi - ảnh hưởng đến chiều cao, tầm vóc của người Việt Nam, đây là chỉ số đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của nước Việt Nam. Do đó, ngành Y tế dành rất nhiều quan tâm và đầu tư nhằm giảm tỷ lệ SDD thấp còi (chiều cao theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi tính chung cả nước từ 24,6% năm 2015 (5) xuống còn 23,0% vào năm 2020 (6).
Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi trên Thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trên Thế giới Các báo cáo của UNICEF, WHO và ngân hàng thế giới (The World Bank) đều cho biết, số trẻ em dưới năm tuổi bị SDD thấp còi toàn cầu năm 2011 được ước tính là 26,0%, hơn 90% trẻ em thấp còi thế giới được phát hiện ở Châu Á (56,0%) và Châu Phi (36,0%) (7). Tỷ lệ SDD thấp còi ở tất cả các khu vực trong các năm qua có xu hướng giảm dần. Theo công bố của Stevens trên tạp chí Lancet năm 2012, tại các quốc gia đang phát triển năm 2010, tỷ lệ SDD thấp còi trẻ dưới năm tuổi là 29,8% nhưng đến năm 2020 giảm xuống còn khoảng 16,3%.
Ở Châu Phi, mức độ giảm ít hơn từ 34,9% năm 2000 xuống còn 31,1% năm 2020. Ở Châu Mỹ La Tinh, Caribê và Châu Á, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn giảm đều đặn hằng năm (8). Tỷ lệ SDD thấp còi trẻ em ở các quốc gia phát triển là thấp, theo dữ liệu từ UNICEF công bố năm 2018 ở Úc và New Zealand dưới 2,5% và 2,6% ở Mỹ (9). Theo nghiên cứu của Kidanemaryam Berhe năm 2016 thì tỷ lệ SDD thấp còi ở của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi ở Thành phố Mekelle, Vùng Tigray, Bắc Ethiopia là 46,0% (10).
Theo nghiên cứu của M Munirul Islam năm 2018 thì tỷ lệ SDD thấp còi ở của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi ở Dhaka, thủ đô của Bangladesh là 48,0% (11). Nghiên cứu SDD thấp còi ở trẻ em dưới năm tuổi tại tiểu khu Teluknaga, tỉnh 7 Banten, Indonesia năm 2015. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng đã được thực hiện bằng cách tính toán chỉ số chiều cao cơ thể theo tuổi dựa trên chỉ số Z-Score theo WHO của 290 trẻ em dưới năm tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy 70,7% trẻ em bị thấp còi, cân nặng khi sinh của trẻ sơ sinh (p = 0,008), tình trạng việc làm của mẹ (p = 0,026) và thu nhập trung bình của ba mẹ (p = 0,012) có mối quan hệ đáng kể với sự xuất hiện của còi cọc ở trẻ sơ sinh.
Cân nặng khi sinh của trẻ sơ sinh là yếu tố nguy cơ chi phối nhiều nhất, trong số các biến số. Đó là những đứa trẻ sinh ra có cân nặng sơ sinh thấp gấp 3,12 lần so với những đứa trẻ có cân nặng bình thường sau khi kiểm soát giới tính trẻ em, số lượng thành viên gia đình, trình độ học vấn của cha và mẹ, tình trạng làm việc của mẹ và cha mẹ trung bình thu nhập (OR = 3,12, KTC 95% CI: 1,38 -7,03). Các chương trình sức khỏe để khắc phục còi cọc có thể được thực hiện thông qua giáo dục về tầm quan trọng của việc tiêu thụ đúng cách kiểm tra dinh dưỡng và sức khỏe định kỳ ở phụ nữ mang thai và trẻ em dưới năm tuổi. Ngoài ra, đào tạo cũng được trao cho tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ để trong tương lai có thể hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc duy trì tình trạng dinh dưỡng ở tuổi thiếu niên, trước khi mang thai cho đến khi mang thai để sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh (12).
Tại khu vực châu Á, các nghiên cứu ở một số quốc gia như Lào, Ấn Độ trong những năm qua đều cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi cũng khá cao. Nghiên cứu của Phengxay M và cộng sự, năm 2007, cho thấy tỉ lệ trẻ em thấp còi là 54,6%, nhẹ cân 35%, gầy còm 6%. Trẻ em thuộc nhóm 12 – 23 tháng tuổi Khmer có tỉ lệ thấp còi cao (65% - 66%) và nhẹ cân cao (40% - 45%). Nghiên cứu cũng cho thấy bé trai có khuynh hướng thấp còi và nhẹ cân hơn bé gái.
Hơn nữa kiêng ăn thịt, rau trong lúc bệnh, mẹ có trình độ học vấn thấp là những yếu tố nguy cơ chính để bị SDD (13). Một nghiên cứu khác thực hiện tại vùng nông thôn Ấn Độ để xác định tỉ lệ SDD thể thấp còi trên 673 trẻ, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD thấp còi là 39,2%. Trình độ học vấn của mẹ và cha đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tỉ lệ SDD của bé gái và bé gái có nguy cơ SDD cao hơn bé trai (14). Nhìn chung tại tất cả các vùng trên thế giới, Z-Scores trung bình của trẻ 24 tháng tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số chiều cao theo tuổi trước và sau 24 tháng của quần thể tham khảo Trung tâm thống kê y tế quốc gia.
Những kết 8 quả nghiên cứu này chỉ ra rằng chương trình can thiệp nên triển khai ở các chu kỳ sớm nhất của cuộc đời vì có hiệu quả tốt nhất trong phòng ngừa trẻ SDD. Các hiệu quả của can thiệp nhằm giảm sự chậm tăng trưởng đặc biệt được nhấn mạnh ở giai đoạn sơ sinh đến 24 tháng tuổi (15, 16). Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi tại Việt Nam SDD thấp còi ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Trong những năm qua, mặc dù Việt Nam được đánh giá là quốc gia thành công trong việc giảm nhanh tỷ lệ SDD trẻ em nói chung và SDD thấp còi nói riêng, nhưng theo WHO, hiện vẫn còn ở mức cao.
Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 56,5% năm 1990 xuống còn 36,5% năm 2000, giảm khoảng 20% trong vòng một thập kỷ và cũng có xu hướng giảm nhanh hơn ở độ SDD nặng hơn. Năm 2009, tỷ lệ này còn 31,9% (17), năm 2015 còn 24,6% (18), và đến năm 2019 còn 22,4% (19). Tuy vậy hiện nay xu hướng giảm tỷ lệ SDD thấp còi ở nước ta vẫn ở mức trung bình theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO.