Tổng quan nghiên cứu

Tuổi vị thành niên sớm (11-14 tuổi) là thời kỳ phát triển bứt phá về thể chất và nhận thức, đóng góp tới 50% tổng trọng lượng cơ thể, hơn 20% chiều cao và 50% khối lượng xương khi trưởng thành. Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2021, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở lứa tuổi học đường tại Việt Nam chiếm khoảng 14,8%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 10% của thế giới. Tại trường Trung học cơ sở Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, báo cáo y tế năm 2019 từng ghi nhận tỷ lệ suy dinh dưỡng lên tới 15,8%, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá lại thực trạng sau khi địa phương hoàn thành mục tiêu xây dựng văn minh đô thị vào năm 2020.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Lê Tiến, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thanh Hà tại Trường Đại học Y tế Công cộng, đã thực hiện đề tài nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: Thứ nhất, mô tả thực trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân thông qua chỉ số khối cơ thể theo tuổi (Z-score BMI-for-age) của 418 học sinh THCS Phú Thứ năm 2021; Thứ hai, phân tích các yếu tố liên quan thuộc nhóm hành vi cá nhân, nhân khẩu học gia đình và môi trường y tế học đường. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 9/2020 đến tháng 6/2021 tại một địa bàn đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị ứng dụng cao, giúp ngành y tế dự phòng địa phương thiết lập các chỉ số mục tiêu và giải pháp can thiệp dinh dưỡng học đường hiệu quả cho giai đoạn 2021-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình sinh thái xã hội trong y tế công cộng kết hợp với khung đánh giá nhân trắc học theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2007) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF). Khung lý thuyết phân tích sự tác động đa tầng lên tình trạng dinh dưỡng của học sinh thông qua ba nhóm nhân tố chính: nhóm yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, thói quen ăn uống, tình trạng tẩy giun và nhận thức hình thể), nhóm yếu tố gia đình (trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ, quy mô hộ gia đình) và nhóm yếu tố nhà trường - xã hội (hoạt động truyền thông, tư vấn dinh dưỡng học đường).

Luận văn vận dụng ba khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Tình trạng dinh dưỡng: Tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể dựa trên sự cân bằng giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao.
  • Suy dinh dưỡng protein - năng lượng thể nhẹ cân: Tình trạng thiếu hụt dưỡng chất thiết yếu làm gián đoạn quá trình tăng trưởng, được định lượng bằng chỉ số Z-score BMI theo tuổi nhỏ hơn -2SD so với quần thể tham chiếu chuẩn của WHO năm 2007.
  • Vị thành niên sớm: Nhóm lứa tuổi từ 11 đến 14 tuổi, giai đoạn định hình tính độc lập trong lựa chọn thực phẩm nhưng dễ bị tổn thương tâm lý trước các định kiến ngoại hình.

Bên cạnh đó, tác giả liên hệ với các công trình nghiên cứu của Viljakainen về nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng do né tránh rau xanh (OR = 1,28), nghiên cứu của Miriam Garrido tại 26 quốc gia châu Âu và nghiên cứu của Đặng Văn Chính tại khu vực phía Nam nhằm xây dựng góc nhìn đối sánh toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang (cross-sectional study). Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với hệ số thiết kế mẫu DE = 2, sai số tuyệt đối d = 0,05, mức ý nghĩa alpha = 0,05 và tỷ lệ suy dinh dưỡng tham chiếu 14,6% từ nghiên cứu trước đó tại Cần Thơ. Cỡ mẫu lý thuyết gồm 384 học sinh, bổ sung 10% dự phòng thành 422 học sinh và thu thập thực tế thành công 418 học sinh đang theo học từ khối 6 đến khối 9.

Quy trình chọn mẫu nhiều giai đoạn được áp dụng nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính đại diện:

  • Bước 1: Lập danh sách toàn bộ các lớp học và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 12 lớp (mỗi khối lớp 6, 7, 8, 9 chọn 3 lớp; riêng khối 9 lấy bổ sung các lớp do sĩ số lớp ít hơn).
  • Bước 2: Chọn toàn bộ học sinh có mặt tại 12 lớp được chọn, đáp ứng đầy đủ tiêu chí đồng thuận tham gia của phụ huynh và không mắc dị tật bẩm sinh về cột sống, chi dưới.

Thu thập số liệu kết hợp đo nhân trắc trực tiếp bằng cân điện tử SEGA (độ chính xác 150g), thước đo chiều cao đứng chuyên dụng UNICEF (độ chính xác 1mm) và bộ câu hỏi cấu trúc tự điền đã qua điều tra thử nghiệm trên 20 học sinh. Số liệu nhân trắc được làm sạch và phân loại tự động bằng phần mềm WHO Anthro Plus. Các kiểm định thống kê suy luận được thực hiện trên phần mềm SPSS phiên bản 16.0: sử dụng kiểm định Student t-test để so sánh giá trị trung bình BMI giữa hai giới và kiểm định Chi-square (χ2) để xác định tỷ số chênh OR (Odds Ratio) cùng khoảng tin cậy 95% (95% CI) với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học theo Quyết định số 021/233/DD-YTCC.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu nhân trắc trên 418 học sinh cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chung là 11,3% (47 học sinh), trong đó suy dinh dưỡng mức độ vừa chiếm 9,6% (40 học sinh) và suy dinh dưỡng mức độ nặng chiếm 1,7% (7 học sinh). Đồng thời, tỷ lệ học sinh có thể trạng bình thường đạt 72,0% (301 học sinh), tỷ lệ thừa cân là 14,8% (62 học sinh) và béo phì là 1,9% (8 học sinh).

Về phân bố nhân khẩu học, tỷ lệ suy dinh dưỡng giữa nam sinh (11,5%) và nữ sinh (11,0%) tương đương nhau và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng dần theo các khối lớp: học sinh 11 tuổi có tỷ lệ 4,0%, 12 tuổi là 8,6%, 13 tuổi tăng vọt lên 17,8% và 14 tuổi là 14,3% (kiểm định Chi-square cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05). Nhóm học sinh 13-14 tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,8 lần so với nhóm 11-12 tuổi (OR = 2,8; 95% CI: 1,4 - 5,5).

Các yếu tố nguy cơ cá nhân và gia đình ghi nhận mối liên quan chặt chẽ với tình trạng suy dinh dưỡng:

  • Học sinh không được tẩy giun trong vòng 6 tháng có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 3,2 lần so với học sinh đã tẩy giun định kỳ (OR = 3,2; 95% CI: 1,36 - 7,8; p = 0,006).
  • Cảm nhận và sự hài lòng về vóc dáng tác động mạnh đến thể trạng: học sinh không hài lòng về chiều cao, cân nặng có nguy cơ suy dinh dưỡng gấp 2,7 lần (OR = 2,7; 95% CI: 1,41 - 5,26; p = 0,02); nhóm học sinh tự nhận định bản thân bị gầy hoặc hơi gầy có nguy cơ suy dinh dưỡng thực tế cao gấp 9,0 lần nhóm bình thường hoặc thừa cân (OR = 9,0; 95% CI: 4,4 - 18,35; p < 0,001).
  • Yếu tố kinh tế hộ gia đình thể hiện qua việc người cha thất nghiệp làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng của con lên 4,7 lần so với người cha có việc làm (OR = 4,7; 95% CI: 1,5 - 15,0; p = 0,03). Tương tự, mẹ làm nghề buôn bán nhỏ lẻ hoặc thất nghiệp làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ lên 2,1 lần (OR = 2,1; 95% CI: 1,2 - 4,0; p = 0,02).
  • Độ tuổi của cha khi sinh trên 35 tuổi đóng vai trò là yếu tố bảo vệ làm giảm nguy cơ suy dinh dưỡng ở con (OR = 0,35; 95% CI: 0,12 - 1,00; p = 0,04).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ suy dinh dưỡng 11,3% tại THCS Phú Thứ năm 2021 đã ghi nhận mức giảm tích cực so với tỷ lệ 15,8% của trường vào năm 2019 và thấp hơn mức trung bình 14,6% của thành phố Cần Thơ năm 2013. Xu hướng này phản ánh sự cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội sau khi địa phương đạt chuẩn văn minh đô thị. Khi trình bày dữ liệu, các bảng phân bố tần số kết hợp biểu đồ cột so sánh tỷ lệ suy dinh dưỡng theo từng khối lớp và biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu dinh dưỡng (11,3% suy dinh dưỡng, 72,0% bình thường, 16,7% thừa cân - béo phì) giúp minh họa trực quan sự tồn tại song song của gánh nặng kép về dinh dưỡng học đường.

Nguyên nhân gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm trẻ lớn tuổi (13-14 tuổi) xuất phát từ xu hướng rời xa sự kiểm soát của cha mẹ, hình thành thói quen ăn uống thất thường. Kết quả khảo sát cho thấy có tới 50,5% học sinh thường xuyên bỏ bữa chính (trong đó 17,7% bỏ do thói quen, 15,1% bỏ do quên) và 24,2% học sinh thực hiện ăn kiêng (với 17,0% nhằm mục đích giảm cân). Thói quen này làm thiếu hụt nghiêm trọng năng lượng và vi chất trong giai đoạn cơ thể đòi hỏi mức tăng trưởng thể chất cao nhất.

Về mặt xã hội, tình trạng việc làm bấp bênh của cha mẹ tác động trực tiếp tới thu nhập hộ gia đình, làm suy giảm khả năng chi trả cho nguồn thực phẩm chất lượng cao. Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh ghi nhớ đã nhận được truyền thông tư vấn dinh dưỡng từ nhà trường chỉ đạt 43,8%, trong khi 56,3% học sinh trả lời không nhận được hoặc không nhớ. Khoảng trống trong truyền thông y tế học đường khiến các em thiếu kiến thức tự chăm sóc, dẫn đến nhận thức sai lệch về chuẩn mực hình thể và duy trì các hành vi ăn kiêng không an toàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp đa ngành nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng học sinh:

  • Tẩy giun định kỳ học đường: Trung tâm Y tế quận Cái Răng phối hợp cùng Ban Giám hiệu THCS Phú Thứ triển khai chiến dịch uống thuốc tẩy giun miễn phí định kỳ 6 tháng một lần cho 100% học sinh toàn trường, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh không tẩy giun từ 7,2% xuống 0% và hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng chung xuống dưới 8% vào cuối năm 2023.
  • Đổi mới truyền thông dinh dưỡng học đường: Trạm Y tế phường Phú Thứ kết hợp với bộ phận y tế nhà trường thiết kế các buổi sinh hoạt chuyên đề ngoại khóa mỗi tháng một lần, nâng tỷ lệ học sinh tiếp cận và ghi nhớ kiến thức dinh dưỡng chuẩn từ 43,8% lên trên 85% trong năm học 2022-2023.
  • Tư vấn tâm lý hình thể và sàng lọc thói quen ăn uống: Đội ngũ y tế học đường cùng giáo viên chủ nhiệm thiết lập hệ thống phát hiện sớm các biểu hiện tự ti ngoại hình và hành vi ăn kiêng cực đoan, tổ chức tư vấn dinh dưỡng cá thể hóa cho 100% học sinh thuộc nhóm nguy cơ cao nhằm triệt tiêu tác động tiêu cực của nhận thức sai lệch về vóc dáng (hệ số nguy cơ OR = 9,0).
  • Trợ cấp an sinh dinh dưỡng cho học sinh nghèo: Ủy ban nhân dân phường Phú Thứ, Hội Khuyến học và Hội Phụ nữ địa phương lập danh sách hỗ trợ bữa ăn học đường và cấp học bổng dinh dưỡng định kỳ cho 100% học sinh có cha mẹ thuộc nhóm thất nghiệp hoặc làm thuê không ổn định trong từng học kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và y tế công cộng (Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố): Sử dụng bộ chỉ số thực địa (tỷ lệ suy dinh dưỡng 11,3%, tỷ lệ thừa cân 14,8%) làm bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách can thiệp dinh dưỡng học đường và phân bổ nguồn lực y tế tuyến cơ sở.
  • Ban Giám hiệu và nhân viên y tế trường học: Áp dụng quy trình theo dõi nhân trắc định kỳ bằng Z-score BMI theo chuẩn WHO 2007 và xây dựng nội dung truyền thông chống bỏ bữa, loại bỏ thói quen ăn kiêng sai lầm cho học sinh THCS.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học sức khỏe: Tham khảo thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kỹ thuật chọn mẫu nhiều giai đoạn với hệ số thiết kế DE = 2, cũng như quy trình làm sạch số liệu bằng WHO Anthro Plus kết hợp xử lý thống kê hồi quy trên SPSS 16.0.
  • Phụ huynh học sinh và các tổ chức bảo vệ quyền lợi trẻ em: Hiểu rõ tầm quan trọng của việc duy trì lịch tẩy giun 6 tháng một lần, nhận diện tác động của bất ổn kinh tế gia đình đối với dinh dưỡng của con em để có phương án bổ sung vi chất kịp thời.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở học sinh THCS Phú Thứ năm 2021 là bao nhiêu? Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chung của học sinh trường THCS Phú Thứ năm 2021 là 11,3% (gồm 9,6% suy dinh dưỡng vừa và 1,7% suy dinh dưỡng nặng). Tỷ lệ này đã giảm so với mức 15,8% năm 2019 nhưng địa phương vẫn đang đối mặt với gánh nặng kép khi tỷ lệ thừa cân chiếm 14,8% và béo phì chiếm 1,9%.

Tại sao học sinh lứa tuổi 13-14 lại có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn nhóm 11-12 tuổi? Học sinh 13-14 tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,8 lần nhóm 11-12 tuổi (OR = 2,8; p = 0,02). Nguyên nhân chủ yếu do các em dần tự lập trong ăn uống, dễ phát sinh thói quen bỏ bữa (50,5% học sinh trong mẫu khảo sát có bỏ bữa chính) hoặc áp dụng chế độ ăn kiêng thiếu khoa học để ép cân.

Việc tẩy giun định kỳ tác động như thế nào đến tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh? Học sinh không được tẩy giun trong vòng 6 tháng có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 3,2 lần so với nhóm được tẩy giun định kỳ (OR = 3,2; p = 0,006). Ký sinh trùng đường ruột cạnh tranh hấp thu chất dinh dưỡng và gây tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm thể trạng của trẻ vị thành niên.

Nhận thức về vóc dáng bản thân ảnh hưởng ra sao đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh? Những học sinh tự nhận định vóc dáng mình gầy hoặc hơi gầy có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 9,0 lần so với nhóm tự thấy bình thường hoặc thừa cân (OR = 9,0; p < 0,001). Cảm nhận tự ti về ngoại hình thúc đẩy các hành vi ăn uống bất thường, làm trầm trọng thêm mức độ thiếu hụt dinh dưỡng.

Nghề nghiệp của cha mẹ ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ suy dinh dưỡng của con? Học sinh có cha thất nghiệp chịu nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 4,7 lần so với trẻ có cha làm việc ổn định (OR = 4,7; p = 0,03). Đồng thời, mẹ làm nghề buôn bán nhỏ lẻ hoặc thất nghiệp làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng của con lên 2,1 lần (OR = 2,1; p = 0,02) do nguồn tài chính dành cho bữa ăn gia đình bị hạn chế.

Kết luận

  • Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của học sinh 11-14 tuổi tại THCS Phú Thứ năm 2021 ghi nhận ở mức 11,3%, không có sự khác biệt giữa nam (11,5%) và nữ (11,0%).
  • Nguy cơ suy dinh dưỡng gia tăng rõ rệt theo độ tuổi, trong đó nhóm 13-14 tuổi có nguy cơ cao gấp 2,8 lần so với nhóm 11-12 tuổi (OR = 2,8).
  • Tình trạng không tẩy giun trong 6 tháng (OR = 3,2) và tự nhận định vóc dáng gầy (OR = 9,0) là hai yếu tố nguy cơ hành vi - nhận thức hàng đầu liên quan đến suy dinh dưỡng.
  • Yếu tố kinh tế gia đình đóng vai trò quyết định, thể hiện qua việc người cha thất nghiệp làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ lên gấp 4,7 lần và mẹ buôn bán nhỏ lẻ hoặc thất nghiệp làm tăng nguy cơ lên 2,1 lần.
  • Hoạt động truyền thông dinh dưỡng học đường còn khoảng trống lớn khi có tới 56,3% học sinh chưa tiếp cận hoặc không ghi nhớ được thông điệp giáo dục sức khỏe.

Các trường học và cơ quan y tế địa phương cần nhanh chóng triển khai chiến dịch tẩy giun đồng loạt và tích hợp chương trình giáo dục dinh dưỡng vào khóa biểu ngoại khóa ngay trong năm học tới. Hãy liên hệ với Trung tâm Y tế quận Cái Răng hoặc Trường Đại học Y tế Công cộng để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và tài liệu tập huấn can thiệp dinh dưỡng học đường chuẩn quốc gia.