MỞ ĐẦU Từ nhiều thập kỷ nay, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã được chứng minh rõ là vấn đề có YNSKCĐ ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [127]. Lý do là tỷ lệ mắc thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn còn cao và những hậu quả nặng nề của nó đối với tỷ lệ tử vong, bệnh tật, cũng như nguy cơ giảm khả năng phát triển ở những giai đoạn sau này và ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống của trẻ. Trên thực tế các đối tượng nguy cơ thường bị thiếu đa vi chất dinh dưỡng chứ không phải chỉ thiếu đơn độc một vi chất dinh dưỡng [98]. Do vậy giải pháp bố sung đa vi chất dinh dưỡng theo những phương pháp khác nhau hiện nay đang được Tổ chức Y tế thể giới (TCYTTG-WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) quan tâm và khuyến nghị như một trong những giải pháp ưu tiên để phòng chống một cách hiệu quả vấn đề thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt ở đối tượng trẻ suy dinh dưỡng ngay từ khi sinh [84].
Để đạt hiệu quả cao trong phòng chống thiếu dinh dưỡng và đa vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, ngày nay rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh nhiều phương pháp, trong đó có những hình thức can thiệp sớm từ trước và trong giai đoạn mang thai [125]. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi sẽ tập trung vào tìm hiểu giải pháp can thiệp cho những trẻ sinh ra đã bị suy dinh dưỡng bào thai: là những trường hợp đã không có được cơ hội phát triển đầy đủ từ trong bụng mẹ, nhằm mong muốn cải thiện tình trạng thiếu dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới một tuổi. Giai đoạn từ khi sinh đến 2 tuổi là giai đoạn quan trọng quyết định tiền đề cho sự phát triển của những giai đoạn sau của cuộc đời. Nếu giai đoạn này bị liên tục kém phát triển sẽ dẫn tới tăng cao tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi [30].
Chính vì tốc độ phát triển nhanh này nên thời kỳ hai năm đầu đời thường là thời kỳ dễ bị ảnh hưởng nhất, cũng là một trong những giai đoạn rất quan trọng và có nguy cơ cao nhất. Bởi vậy trong giai đoạn này trẻ cần được nuôi dưỡng hợp lý và cần nhận được sự chăm sóc đặc biệt để giúp trẻ phát triển và có thể có cơ hội bù đắp những thiếu hụt nếu có về dinh dưỡng mà trẻ đã không được nhận đủ từ trong bụng mẹ. 2 Tóm lại việc bổ sung đa vi chất theo những cách khác nhau đã được khuyến nghị như là một trong những giải pháp thiết thực để giải quyết tình trạng thiếu da vi chất dinh dưỡng [106]. Nhưng cho đến nay những nghiên cứu cải thiện tình trạng vi chất của trẻ sơ sinh thông qua người mẹ với kỳ vọng tăng ci chất (sắt, kẽm) đã không cho những kết quả tích cực [108].
Vì vậy những thử nghiệm bổ sung trực tiếp vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng bào thai là chủ đề đang được các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng trên thế giới hết sức quan tâm [98] vì những lý do sau: (1) đây là đối tượng trẻ bệnh có khuyến cáo điều trị của TCYTTG bên cạnh bú mẹ, (2) các tổng kết nghiên cứu của TCYTTG đã cho thấy bổ sung yếu tố vi lượng cho bà mẹ không làm tăng được nồng độ trong sữa mẹ, (3) việc chẩn đoán trẻ suy dinh dưỡng bào thai rất đơn giản nên nếu đề tài đưa ra được giải pháp can thiệp trên đối tượng này thì việc áp dụng trên đúng đối tượng sẽ rất khả thi. Cùng với tất cả những điều trình bày trên, mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu về tình trạng của một số vi chất dinh dưỡng trên trẻ mới sinh và trên bà mẹ lúc mang thai 3 tháng cuối, đánh giá mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng của Mẹ-Con và đánh giá hiệu quả của biện pháp bổ sung trực tiếp vi chất dinh dưỡng trên những trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng bào thai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ sơ sinh đủ tháng có cân nặng thấp đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trong giai đoạn mang thai 2.
Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vi chất dinh dưỡng (sắt, acid folic, kẽm, vitamin A) trên trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng bào thai. Giả thuyết nghiên cứu 1. Trẻ sơ sinh nhẹ cân có tỷ lệ cao thiếu vitamin A, Kẽm, Sắt và thiếu cùng một lúc các vi chất dinh dưỡng trên. Có mối liên quan chặt giữa tình trạng dinh dưỡng, vi chất dinh dưỡng của phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh.
Bổ sung vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, kẽm) cho trẻ sơ sinh thiếu vi chất dinh dưỡng sẽ cải thiện được tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THIẾU DINH DƯỠNG CHU KỲ VÒNG ĐỜI VÀ THỰC TRẠNG THIẾU ĐA VI CHẤT DINH DƯỠNG Ở TRẺ NHỎ VIỆT NAM 1. Ý nghĩa của Chu kỳ vòng đời và đặc điểm của các giai đoạn nguy cơ cao của chu kỳ vòng đời Tất cả các giai đoạn phát triển, lớn lên của con người đều liên quan chặt chẽ với nhau: giai đoạn trước có ảnh hưởng quan trọng tới giai đoạn sau, điều này đã được các nhà khoa học dinh dưỡng nhấn mạnh và đưa ra trong “thuyết lập trình”.
Khi chế độ ăn bị thiếu năng lượng và những vi chất cần thiết, điều này tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả suy dinh dưỡng và bệnh tật, không chỉ riêng ở thế hệ đó mà những hậu quả này sẽ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ người mẹ sang đứa con. Đối với phụ nữ, nếu bị suy dinh dưỡng từ nhỏ, đến khi trưởng thành, đặc biệt giai đoạn mang thai vẫn bị suy dinh dưỡng sẽ có nguy cơ cao bị sinh con nhẹ cân. Thiếu dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng có thể ảnh hưởng chặt chẽ theo chu kỳ vòng đời, đòi hỏi các chăm sóc và can thiệp liên tục hợp lý cho từng thời kỳ Trẻ đẻ nhẹ cân phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ đặc biệt là tăng tỷ lệ tử vong, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển trí tuệ, nếu kết hợp chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và dịch vụ y tế kém dễ trở thành trẻ suy dinh dưỡng thấp còi. Trẻ thấp còi lúc nhỏ có nguy cơ trở thành thấp còi ở tuổi vị thành niên với khả năng học tập kém, lớn lên trở thành người trưởng thành bị thấp còi và tăng nguy cơ tăng cân kém trong khi mang thai, thì hậu quả gần như tất yếu là sinh con bị suy dinh dưỡng bào thai và tăng nguy cơ bệnh mạn tính sau này ở tuổi trưởng thành nếu kết hợp chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và y tế kém trong suốt những giai đoạn sau này của cuộc đời [30].
Nếu là phụ nữ dễ bị thiếu dinh dưỡng trước khi mang thai, sau này sẽ có những ảnh hưởng xấu lên dinh dưỡng bào thai. Chu kỳ vòng đời sẽ tiếp tục vòng 4 xoắn bệnh lý này với chất lượng con người sẽ ngày càng kém nếu như không có những can thiệp đúng đắn vào những giai đoạn cần thiết [30]. Can thiệp sớm có một ý nghĩa hết sức quan trọng vì đưa lại hiệu quả cao và là con đường (hay một cách tiếp cận) khoa học đã được khoa học chứng minh trong sự nghiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của con người. Tóm lại những yếu tố có thể giúp cải thiện cân nặng và chiều cao bé gái từ giai đoạn phôi thai và phát triển (hay các điều kiện để giúp phát huy tối đa khả năng của bộ gene) đó là: Giai đoạn bào thai được tăng cân, cân nặng khi sinh tốt hơn.
Giai đoạn sơ sinh nhận được các yếu tố thúc đẩy sự phát triển tốt hơn. Được giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Được giảm khả năng thiếu các vi chất dinh dưỡng [30]. Thực trạng và các yếu tố liên quan đến tình hình thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ Việt nam 1.
Thực trạng thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Bảng 1. Thiếu kết hợp nhiều vi chất dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam trước tuổi đi học Loại vi chất Trai (n=137) Gái (n=106) Chung (n=243) Thiếu Selen 83 (61,9%) 66 (62,9%) 149 (62,3%) Thiếu Kẽm 116 (87,2%) 90 (86,5%) 206 (86,9%) Thiếu Mg 72 (53,7%) 52 (49,5%) 124 (51,9%) Thiếu Đồng 3 (2,2%) 1 (1%) 4 (1,7%) Kết quả điều tra về tình trạng thiếu chung đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ tại các vùng nông thôn Việt Nam (bảng 1.) của Nhiên và cs [103]: Tỷ lệ thiếu kẽm, selenium, magnesium, và đồng là 86,9%, 62,3%, 51,9%, và 1,7%, theo thứ tự. Mặt khác 55,6% trẻ bị thiếu máu và 11,3% số trẻ bị thiếu vitamin A. Thiếu đồng thời từ 2 vi chất dinh dưỡng trở lên chiếm tới 79,4% trẻ.
Các tác giả cũng tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thiếu máu và thiếu selenium, thiếu retinol 5 huyết thanh. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ vẫn là vấn đề rất phổ biến ở Việt Nam. Thực trạng và các yếu tố nguy cơ thiếu sắt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Thực trạng thiếu sắt Người ta đã ước tính có khoảng 600–700 triệu người trên toàn thế giới bị thiếu sắt [132]. Thiếu sắt và mối liên quan với thiếu máu từ lâu đã là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của toàn cầu, trong đó trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ còn bú mẹ nằm trong nhóm nguy cơ cao nhất.
Thiếu máu và thiếu sắt ở trẻ nhỏ có thể dẫn tới chậm phát triển cả về tinh thần và thể chất và rất nhiều ảnh hưởng xấu khác tới sức khỏe [126][58]. Tỷ lệ thiếu sắt (ferritin huyết thanh thấp, sắt dự trữ giảm mạnh) cao nhất ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ nhỏ. Chủ yếu thiếu sắt gặp ở các nước đang phát triển, những cũng là vấn đề ở những nước đã phát triển. Theo số liệu đã được công bố thì có tới 700.000 trẻ sơ sinh ở Mỹ [99].
Các nước đang phát triển tỷ lệ thiếu sắt thiếu máu ở trẻ em vẫn rất cao: 53% ở Ấn độ, 45% ở Indonesia, 37,9% ở Trung quốc, và 31,8% ở Phillipine, trong khi đó các nước đã phát triển tỷ lệ này tương đối thấp: Mỹ: 3-20%; Hàn quốc: 15%.