ĐẶT VẤN ĐỀ Mang thai và sinh nở là giai đoạn chứa đựng nhiều nguy cơ về sức khỏe, bệnh tật và tàn phế, là nguyên nhân gây ra ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [14]. Mỗi năm trên thế giới cũng có ít nhất 7 triệu phụ nữ sống sót sau sinh phải đối mặt với những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và hơn 50 triệu phụ nữ phải gánh chịu những hậu quả có hại cho sức khỏe sau khi sinh. Bệnh tật và tử vong mẹ cũng là nguy cơ bệnh tật và tử vong của trẻ. Hàng năm, có khoảng 8 triệu trẻ em chết trong năm đầu.
Trong đó, gần 40% trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là xảy ra trong khoảng thời gian 28 ngày đầu sau khi sinh, với ¾ là tử vong vào khoảng thời gian 7 ngày đầu sau sinh [14]. Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vọng mẹ và tử vong sơ sinh đã có sự cải thiện rõ rệt trong những năm qua. Tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm từ 137/100.000 trẻ đẻ sống năm 1995 xuống còn 67/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2011 [4]. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm một nửa từ 44,4 trên 1.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 14 trên 1.
Mặc dù có những thành tựu như vậy nhưng đáng chú ý là tình trạng chênh lệch ngày càng gia tăng, có sự khác biệt đáng kể liên quan đến tử vong mẹ và tử vong trẻ giữa các vùng miền, dân tộc, nơi cư trú, thu nhập của hộ gia đình cũng như trình độ học vấn của mẹ. Tỷ suất tử vong mẹ còn cao ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc. Tỷ suất tử vong ở trẻ em đối với các dân tộc thiểu số từ năm 2006 đến năm 2011 đã tăng lên và vẫn cao gấp 3,5 lần so với tỷ lệ đó của dân tộc Kinh [3]. Mặt khác, mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng phần lớn số trẻ tử vong dưới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 70% các ca tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và 52% các ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi (JAHR 2010).
Tỷ lệ tử vong ở các khu vực nông thôn miền núi cao gấp 2 đến 2,5 lần tỷ lệ đó ở các khu vực nông thôn đồng bằng và thành thị [18]. Do đó, vẫn cần rất nhiều nỗ lực để nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em, đặc biệt là ở các khu vực kinh tế khó 2 khăn, khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Đông bắc Việt Nam, có địa hình phức tạp, diện tích 5860Km2, toàn tỉnh có 22 dân tộc anh em sinh sống. Một thành phố, 6 huyện và 141 xã/phường, thị trấn.
Số phụ nữ từ 15 - 49 tuổi là 152. Na Hang là một huyện vùng cao phía bắc của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 110km với 1. Na Hang là nơi sinh sống của các dân tộc: Tày (57,52%), Dao (23,38%), Kinh (9,72%), H’Mông (5,31%), còn lại là các dân tộc khác [8]. Tại tỉnh Tuyên Quang chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trước sinh của bà mẹ dân tộc Tày.
Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế sinh sản là rất khác nhau giữa các đối tượng, đặc biệt với bà mẹ có con dưới 1 tuổi thì nhu cầu này rất cao, cao hơn các độ tuổi khác. Câu hỏi đặt ra là hiện nay thực trạng về việc sử dụng dịch vụ y tế trước sinh cho bà mẹ dân tộc Tày hiện nay như thế nào? Công tác cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước sinh cho bà mẹ dân tộc như thế nào? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc Tày tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang năm 2016”. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý dịch vụ chăm sóc trước sinh tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) tỉnh Tuyên Quang, huyện Na Hang nói riêng và đối với y tế huyện, xã trong tỉnh Tuyên Quang nói chung. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc Tày tại Huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang năm 2016. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc Tày tại Huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang năm 2016. Tổng quan tài liệu 1. Khái niệm chăm sóc trƣớc sinh Chăm sóc trước sinh là những dịch vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt.
Chăm sóc trước sinh có vai trò quan trọng nhằm phát hiện và quản lý hiệu quả các dấu hiệu bất thường từ sớm, hay những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tật và tử vong trong quá trình mang thai [34]. Chƣơng trình chăm sóc trƣớc sinh Một chương trình chăm sóc trước sinh bao gồm 3 nội dung chính: khám thai, chăm sóc sức khỏe, dự phòng và chữa trị các bệnh tật nếu có (tiêm uốn ván, uống viên sắt,.); và tư vấn giáo dục sức khỏe [34]. Sơ đồ chăm sóc trước sinh 1. Khám thai Theo khuyến cáo của WHO và UNICEF, phụ nữ có thai phải được cán bộ y tế kiểm tra sức khỏe ít nhất bốn lần trước khi sinh [33].
Các cuộc kiểm tra sức 5 khỏe này là cơ sở để cung cấp cho phụ nữ các biện pháp can thiệp thiết yếu như tiêm phòng uốn ván, kiểm tra và điều trị các bệnh nhiễm trùng, cũng như thông tin quan trọng về các trường hợp biến chứng trong thời kỳ mang thai và khi sinh con. Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, tử vong mẹ đã giảm được đáng kể thông qua chăm sóc trước sinh với việc phát hiện và điều trị cao huyết áp, ngăn ngừa sản giật [27]; phát hiện và điều trị thiếu máu [32]; cũng như thông qua việc điều trị dự phòng sốt rét và tiêm phòng uốn ván sơ sinh [17]. Chăm sóc trước sinh cũng là cơ hội để tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục như giang mai, HIV. Ở Việt Nam, hiện nay theo khuyến nghị của Bộ Y tế, trong một kỳ thai nghén, người phụ nữ phải đi khám thai định kỳ ít nhất 3 lần [2], trong đó:Lần thứ nhất được thực hiện trong 3 tháng đầu với mục đích là xác định tuổi thai, đăng ký quản lý thai nghén sớm, phát hiện những bất thường và những biến chứng sớm như nôn nặng hoặc các bệnh lý gây chảy máu [2].
Lần thứ hai khám vào 3 tháng giữa để đánh giá sự phát triển của thai, phát hiện thai nghén có nguy cơ cao và tiêm phòng uốn ván [2]. Ngoài ra, Bộ y tế cũng khuyến cáo chất lượng bảo vệ thai tăng lên theo số lần khám thai. Người mẹ nên khám thai mỗi tháng 1 lần cho đến khi được 28 tuần tuổi, sau đó cứ hai tuần một lần cho đến khi được 36 tuần, và sau đó nên khám hàng tuần cho đến tuần thứ 40 [1]. Số lần khám thai và chất lượng bảo vệ thai Số lần Quí 1 Quí 2 Quí 3 Khám T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 Nhận xét thai 0 lần Thai hoàn toàn không được bảo vệ 1 lần x Tác dụng bảo vệ rất kém 2 lần x x Tác dụng bảo vệ kém 3 lần x x x Chỉ thích hợp với thai thường 5 lần x x x x x Chất lượng bảo vệ thai 10 lần x x x x x x x tăng dần theo số lần khám x thai 12-13 xx x x x xx xx x lần x x x x x 6 1.
Tiêm phòng uốn ván Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ sinh [3]. Để dự phòng tai biến này, khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám thai định kỳ đủ 3 lần, qua khám thai cán bộ y tế sẽ giúp thai phụ tiêm phòng uốn ván, đồng thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván có được thực hiện đầy đủ không. Thực trạng sử dụng các dịch vụ chăm sóc trƣớc sinh 1. Trên thế giới Có khoảng hơn 70% phụ nữ trên thế giới được khám thai ít nhất một lần trong quá trình mang thai nhưng chênh lệch giữa các quốc gia là rất lớn.
Độ bao phủ của chăm sóc trước sinh cao hơn hẳn ở các nước phát triển (98%) so với các nước đang phát triển (68%). Khu vực Nam Á có tỷ lệ phụ nữ được khám thai thấp nhất (54%). Ở cấp độ quốc gia việc sử dụng dịch vụ này còn thấp hơn nhiều, như ở Afghanistan, tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc trước sinh chỉ đạt 16% [34]. Trong giai đoạn 2006-2013, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 4 lần theo khuyến nghị của WHO chỉ đạt khoảng 56%.
Ở các nước phát triển, tỷ lệ này đạt 100%. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 4 lần đã tăng từ khoảng 37% năm 1990 lên khoảng 52% trong năm 2012 nhưng ở các nước có thu nhập thấp, chỉ có 38% phụ nữ mang thai được tham dự bốn lần khám thai hoặc nhiều hơn trước khi sinh trong thời gian 2006- 2013. Những số liệu về tỷ lệ phụ nữ được khám thai ít nhất 4 lần không có đầy đủ cho tất cả các quốc gia. Nhưng những dữ liệu hiện có cho thấy rằng có rất ít cải thiện trong chỉ số này trong thập kỷ qua [35].
Tại Việt Nam Theo kết quả điều tra Quốc gia đánh giá các mục tiêu phụ nữ và trẻ em năm 2011, tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc trước khi sinh (bởi Bác sĩ, Y tá hoặc Hộ sinh) khá cao với 93,7% phụ nữ được chăm sóc ít nhất một lần trong lần mang thai gần đây nhất. Tuy nhiên tỷ lệ này có khác biệt giữa các vùng và khác biệt theo học vấn và tình trạng kinh tế. Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc trước khi sinh 7 cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ (99%) và thấp nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (82,8%). Tỷ lệ chăm sóc trước khi sinh tăng đáng kể theo trình độ học vấn của người phụ nữ.