ĐẶT VẤN ĐỀ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng từ 27% đến 99% phụ nữ dùng một số dạng thuốc trong thời kỳ mang thai [1]. Một số phụ nữ mang thai phải dùng thuốc do các vấn đề về sức khỏe. Cũng có một số khác vô tình sử dụng thuốc trước khi biết rằng mình đang mang thai. Thuốc chỉ nên được kê đơn khi lợi ích của thai phụ hoặc thai nhi vượt trội hơn so với nguy cơ dựa trên nhiều đánh giá của các bác sĩ chuyên khoa.
Không một thuốc nào có mức an toàn là tuyệt đối. Đặc biệt với đối tượng phụ nữ đang mang thai thì việc lựa chọn và sử dụng thuốc càng phải cẩn trọng. Bởi phụ nữ mang thai là đối thường bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng đối với hiệu quả của thuốc vì thai nhi đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi các tác dụng phụ [1, 2]. Ngay cả với các thuốc an toàn thì vẫn có khả năng xảy ra rủi ro khi dùng liều cao, nhất là với trường hợp chưa có báo cáo, thống kê cụ thể [3].
Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo rằng sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai là rất phổ biến. Theo ước tính có khoảng 80% phụ nữ sử dụng ít nhất một loại thuốc kê đơn hoặc không kê đơn trong khi mang thai [4]. Khi mang thai phụ nữ sử dụng nhiều các loại thuốc khác nhau tùy theo từng quốc gia nhưng các nhóm kháng khuẩn toàn thân, thuốc chống nôn, thuốc chống nhiễm trùng phụ khoa và thuốc kháng histamin là một trong những nhóm thuốc được cấp phát nhiều nhất trong thời kỳ mang thai [5]. Và các loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất bao gồm thuốc chống nôn, chống acid, thuốc giảm đau, thuốc kháng histamin, thuốc kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc ngủ, thuốc an thần và các loại thuốc xã hội và thuốc khác [6].
Sử dụng thuốc trên đối tượng là phụ nữ có thai là vấn đề nhạy cảm và chưa có nhiều dữ liệu đáng tin cậy để làm căn cứ ra về tính an toàn, quản lí tình trạng cấp tính và mạn tính khi mang thai để đưa ra quyết định việc tiếp tục sử dụng theo kê đơn hoặc bắt đầu liệu pháp mới. Bệnh của thai phụ có thể phải điều trị trực tiếp bằng thuốc kê đơn trong khi mang thai. Tuy nhiên, sử dụng thuốc trong thời gian này là phức tạp vì lợi ích sức khỏe của thai phụ phải được coi trọng chống lại các tác động có hại đến thai nhi. Dùng thuốc khi mang thai liên quan đến việc cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích cho 1 Luan van cả mẹ và bé.
Và đặc biệt dùng thuốc khi đang mang thai có thể vô tình gây hại cho mẹ hoặc bé trong bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện hạng I chuyên ngành sản khoa, phụ khoa, kế hoạch hóa gia đình. Thế mạnh của viện là các phương tiện chẩn đoán điều trị, trong đó các kĩ thuật mới đều được áp dụng để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh, bao gồm các máy siêu âm thế hệ mới, nội soi, các phương pháp hỗ trợ sinh sản. Bệnh nhân chủ yếu là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ có thai nên việc dùng thuốc càng cần được chú ý.
Nhằm phục vụ cho mục tiêu chăm sóc sức khỏe của thai phụ trong thời kỳ mang thai, em đã tiến hành khảo sát về: ―Thực trạng sử dụng thuốc ở thai phụ và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2021‖ với mục tiêu: 1. Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc ở thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng thuốc ở thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. 2 Luan van CHƢƠNG 1.
Tổng quan về thai phụ 1. Các giai đoạn mang thai Khái niệm mang thai: tình trạng có một phôi thai hoặc bào thai đang phát triển trong cơ thể, sau sự kết hợp của tế bào trứng (noãn) và ống sinh tinh. Thời gian mang thai trung bình của con người là 10 tháng âm lịch (280 ngày) kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng [7]. Một số dấu hiệu để nhận biết mang thai sớm như: trễ kinh, cảm thấy mệt mỏi, buồn nôn vào buổi sáng hoặc những lúc khác, đi tiểu thường xuyên, mềm và mở rộng của vú.
Sau khi trứng gặp tinh trùng và hình thành nên phôi thai, phôi thai sẽ được chuyển đến tử cung làm tổ. Trong giai đoạn này thì thai phụ sẽ cảm nhận được những thay đổi rõ rệt trên cơ thể. Thông thường quá trình mang thai của mẹ sẽ kéo dài khoảng 40 tuần - cụ thể là 9 tháng 10 ngày và được chia làm 3 giai đoạn gọi là tam cá nguyệt. Mỗi tam cá nguyệt sẽ kéo dài 12-13 tuần (3 tháng) với các giai đoạn dưới đây [8].
- Ở giai đoạn 1 từ tuần 1 đến tuần 12: Xảy ra quá trình thụ thai, một tinh trùng thâm nhập vào trứng. Trứng được thụ tinh (gọi là hợp tử) sẽ di chuyển qua ống dẫn trứng đến tử cung thai phụ nơi nó làm tổ trong thành tử cung. Hợp tử được tạo thành từ một cụm tế bào mà sau này hình thành nên bào thai và nhau thai. Nhau thai kết nối mẹ với thai nhi và cung cấp chất dinh dưỡng và oxy cho thai nhi.
- Giai đoạn 2 từ tuần 13 đến tuần 28: Từ 18 đến 20 tuần, thời điểm thông thường để siêu âm tìm dị tật bẩm sinh và có thể tìm ra giới tính của thai nhi. - Giai đoạn 3 từ tuần 29 đến tuần 40: Ở tuần thứ 32, xương mềm và chưa hình thành gần như hoàn chỉnh, mắt có thể mở và đóng. Trẻ sinh trước 37 tuần được coi là sinh non. Trẻ sinh ở tuần thứ 37 và 38 của thai kỳ - trước đây được coi là đủ tháng - nay được 3 Luan van coi là "sinh non".
Trẻ sinh ra ở tuần thứ 39 hoặc 42 tuần trở lên của thai kỳ được coi là đủ tháng. Thay đổi về sinh lý và giải phẫu khi mang thai Nhu cầu trao đổi chất của thai kỳ đòi hỏi những thay đổi về sinh lý và giải phẫu của cơ thể mẹ. Các thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp tới các hệ cơ quan trong cơ thể như: tim mạch, hô hấp, thận, tiêu hoá và huyết học. Cụ thể thay đổi ở từng hệ cơ quan.
Thay đổi tại cơ quan sinh dục [9] Đầu tiên về tử cung: Vào tháng cuối ở giai đoạn 2 tử cung mở rộng. Ở cuối thai kỳ tăng cao cả về thể tích (có thể tới 20ml) và trọng lượng (1100gr). Bề cao tử cung: tháng thứ 2 mỗi tháng tăng 4cm. Lưu lượng máu tử cung - nhau tăng lên, đạt 450-600ml/ phút cuối thai kỳ.
Các cơn đau xuất hiện ở 3 tháng đầu có những cơn co nhẹ, không đều và không đau. Trong 3 tháng giữa các cơn co có thể phát hiện khi khám bằng 2 tay và được gọi là cơn co Braxton Hicks (không đều, cường độ 5-25 mmHg, không đau) và cuối thai kỳ cơn co Braxton Hicks đều hơn và gây cảm giác khó chịu. Tiếp theo về cổ tử cung mềm hơn và có màu tím nhạt. Sau khi thụ thai chất nhày ở cổ tử cung đặc lại tạo nút nhày cổ tử cung.
Lỗ ngoài ở cổ tử cung người con so nhỏ và đóng kín tới cuối thai kỳ; của người con rạ to hơn, có thể hở ngoài, mềm hơn. Ở buồng trứng các mạch máu to ra và không xảy ra sự rụng trứng. Âm đạo, âm hộ và tầng sinh môn: Mềm hơn do tăng sinh mạch máu và tăng lưới máu, âm đạo tăng tiết, màu tím, thành âm đạo thay đổi để dễ giãn hơn khi sinh. Dịch tiết âm đạo và cổ tử cung có tính axit.
Các môi lớn và môi nhỏ có những tĩnh mạch giãn rộng. Dưới da có nhiều tĩnh mạch làm cho âm vật cũng có màu tím. Thay đổi ngoài cơ quan sinh dục Vú: Vú nhạy cảm hơn, dễ đau khi đụng chạm. Hai tuần sau khi thụ tinh, vú và núm vú bắt đầu to ra, quầng vú cũng sẫm màu hơn: thường là gợi ý đầu tiên về sự có thai.
Các hạt nhỏ quanh quầng vú là những tuyến dưới da (gọi là 4 Luan van Montgomery) cũng bắt đầu to lên, tiết ra chất nhờn làm mềm da và quầng vú. Có thể ra sữa loãng khi nắn nhất là vào những tháng cuối [9, 10]. Hệ thống xương: Các khớp mu, khớp cùng - cụt giãn và mềm ra làm cho khung chậu dễ dàng thay đổi và rộng ra giúp cho sinh sản được dễ dàng hơn. Đôi khi khớp mu giãn quá mức, làm cho thai phụ bị đau.
Da: Có thể có những vết nám, nhất là ở mặt, hai bên gò má. Ngoài ra vết nám có thể ở thành bụng, ở đường trắng giữa. Thành bụng giãn nở đột ngột nên da bị rạn nứt: ở con so có màu xanh sẫm do sắc tố sắt bị đọng lại. Sau sinh, các vết rạn nhạt màu dần, để lại màu trắng xà cừ.
Thay đổi về chuyển hoá Khi mang , thai phụ có những thay đổi rõ rệt về trọng lượng cơ thể, thường tăng trung bình 12,5kg. Cụ thể ở 3 tháng đầu thai kỳ tăng không quá 1,5kg, 3 tháng giữa mỗi tuần tăng 0,5kg, giai đoạn cuối tăng nhanh 4-5kg [9]. Chuyển hoá nước ở giai đoạn này cơ thể mẹ sẽ tăng giữ nước. Thể tích nước nhỏ nhất V= 6500ml (3500ml ở nhau, thai, nước ối; 3000ml do tăng V máu ở mẹ, kích thước tử cung và vú).
Sau sinh: toát mồ hôi và tiểu nhiều. Các chuyển hoá khác cũng tăng trong thai kỳ. Nhu cầu đạm tăng lên trong thai kỳ để đảm bảo nitrogen dương. Thai phụ cũng bị hạ đường huyết nhẹ lúc đói và tăng đường huyết sau ăn, tăng insulin máu.
Chuyển hoá chất béo cơ thể: tích tụ mở chủ yếu tập trung ở trung tâm cơ thể; nồng độ lipid, lipoproteins, apolipoproteins huyết tương tăng đáng kể. Chuyển hoá chất khoáng: nhu cầu sắt trong thai kỳ rất cao, vượt hơn số lượng sắt có sẵn trong cơ thể. Nhu cầu sắt tăng khá cao trong nửa sau thai kỳ, trung bình 6-7 mg/ngày. Nhu cầu Chuyển hoá Calcium, Magnesium giảm còn Photphate không thay đổi.
Vitamin A, B, C hơi thiếu, D bình thường; E, K tăng. Thay đổi về sinh lý [10] Khi phụ nữ mang thai sẽ gây ra thay đổi sinh lý trong tất cả các cơ quan của cơ thể mẹ, những thay đổi này hầu hết sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.