Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đại cương về đột quỵ não 1. Định nghĩa đột quỵ não Đột quỵ não được định nghĩa như một “hội chứng thiếu sót chức năng não khu trú hơn là lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn não[8]. Dịch tễ học đột quỵ não Đột quỵ não luôn là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật phổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới, để lại gánh nặng lớn đối với gia đình và xã hội. Trên thế giới, tỷ lệ mới phát hiện hằng năm của đột quỵ não là 200 trường hợp đối với 100.000 người Ở Hoa Kỳ ước tính có khoảng 6,5 triệu người bị đột quỵ não (trung bình cứ 40s là có một người bị đột quỵ não và cứ 3-4 phút là có một người tử vong vì tai biến mạch máu não).
Tài liệu dịch tễ học của tai biến mạch máu não tiến hành tại 35 bệnh viện ở châu Á cho thấy: tỉ lệ bệnh nhân đột quỵ não điều trị nội trú ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Indonesia 8%, Thái Lan 6%, Philippin 10%, Việt Nam 7%, Malaysia 2%. Tác giả Held và cộng sự nghiên cứu 218 trường hợp liệt nửa người phải do tổn thương vùng bán cầu não trái có rối loạn ngôn ngữ trên 90%, bao gồm: 40% thất ngôn kiểu Broca, 36% thất ngôn kiểu Wernick, 24% thất ngôn toàn bộ. Ở Trung Quốc, khoảng hơn 1/3 người bệnh đột quỵ não có rối loạn ngôn ngữ ở các mức độ khác nhau [7]. Đột quỵ não (Tai biến mạch máu não) luôn là một thách thức của Y học, một vấn đề thời sự cấp bách.
Đột quỵ não là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh ung thư và tim mạch. Tỷ lệ mới mắc cao ở Hoa Kỳ 700- 750. Số sống sót chỉ 10 % khỏi hoàn toàn, 25% di chứng nhẹ,40% di chứng vừa và nặng cần trợ giúp một phần hoặc hoàn toàn, là một gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội [8].Bên cạnh đó đột quỵ não là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên toàn thế giới quan tâm, vì đột quỵ não có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tàn tật rất cao từ đó ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, tâm lý của gia đình nói riêng và toàn xã hội [4]. 3 Ở các nước phát triển thì đột quỵ là nguyên nhân đứng thứ ba trong tổng số các nguyên nhân gây tàn tật ở người trưởng thành [15].
Đột quỵ gây ra nhiều hậu quả và gánh nặng toàn cầu 59,2 % và đặc biệt ở người cao tuổi ( 70 tuổi trở lên) thì 5,7% số năm sống chung với tàn tật của họ có nguyên nhân từ đột quỵ. Trong tổng số những bệnh nhân còn sống sót sau đột quỵ thì 90% có di chứng nặng nề khó khôi phục được, chỉ 5% đến 20% bệnh nhân phục hồi chức năng hoàn toàn[14, 24, 49]. Đột quỵ không chỉ là một trong những căn bệnh phổ biến nhất hiện nay mà còn là mối quan tâm sức khỏe cộng đồng toàn cầu về tỷ lệ tử vong, tàn tật và nhu cầu về chi phí y tế và xã hội [17, 23]. Hầu hết các gánh nặng tàn tật là ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình (68,6% biến cố tai biến mạch não, 52,2% tai biến mạch não đang lưu hành, 70,9% trường hợp tử vong do tai biến mạch não, và 77,7% tàn tật) [30].
Chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng đột quỵ não Chẩn đoán dựa theo khai thác tiền sử. Triệu chứng lâm sàng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc MRI [9]. Dấu hiệu và triệu chứng đột quỵ não Yếu hoặc liệt nửa người một bên.
Mất hoặc rối loạn cảm giác của một bên nửa người. Cơ nửa người co cứng hoặc mềm nhẽo ở giai đoạn đầu. Rối loạn ngôn ngữ do hiểu kém hoặc diễn đạt kém. Mất các cử động quen thuộc: chải đầu, mặc áo.
vụng về, khó khăn. Rối loạn về nói: nói ngọng, nói lắp hoặc nói to quá, nhanh quá. Rối loạn về nuốt: nuốt nghẹn, uống sặc. Đại cương về rối loạn ngôn ngữ 1.
Định nghĩa về ngôn ngữ Theo hiệp hội ngôn ngữ - Giao tiếp- thính học Hoa Kì: Ngôn ngữ là khả năng hiểu và sử dụng lời nói (nghe và nói), chữ viết (đọc và viết) và hệ thống các biểu tượng giao tiếp khác như hệ thống dấu, kí hiệu. Các phương ngữ hay kiểu giao tiếp khác nhau là các biến thể của một hệ thống biểu tượng được sử dụng bởi một cộng 4 đồng người cùng các yếu tố vùng miền xã hội, văn hóa và cùng dân tộc. Ngôn ngữ diễn đạt (nói và viết). Một ngôn ngữ đầy đủ bao gồm năm lĩnh vực sau: ngữ âm học; hình thái học; cú pháp; ngữ nghĩa.
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người hay động vật sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau, cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như vậy. Là hệ thống thông tin liên lạc được sử dụng bởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể, cách thức hoặc phong cách của một đoạn văn bản hoặc lời nói. Ngành khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học. Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới dao động khoảng từ 6000 đến 7000 loại khác nhau.
Tuy nhiên, bất cứ ước lượng chính xác nào cũng đều phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ chính và ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện truyền thông sử dụng các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác hoặc kích thích (ví dụ: văn bản, đồ họa, chữ nổi hoặc huýt sáo). Điều này là do ngôn ngữ của con người độc lập với phương thức biểu đạt. Khi được sử dụng như là 1 khái niệm chung, ngôn ngữ có thể nói đến các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp hoặc để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này hay tập hợp các lời phát biểu có thể được tạo thành từ những quy tắc.
Định nghĩa rối loạn ngôn ngữ Trong một thời gian dài rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực bệnh lý ngôn ngữ đã được thực hiện, đưa ra các khái niệm khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu và chuyên ngành của họ để nói về chứng rối loạn ngôn ngữ: * Chậm ngôn ngữ (language delay) * Rối loạn ngôn ngữ (language disorders) * Rối loạn ngôn ngữ phát triển (development language disorder) * Khiếm khuyết ngôn ngữ đơn thuần (specific language impairment) * Khiếm khuyết ngôn ngữ hay khuyết tật ngôn ngữ (language impairment or language disability). 5 Trong các nghiên cứu xuất bản trước năm 2017, tùy từng mục tiêu nghiên cứu, tùy sự thống nhất trong từng quốc gia mà các tác giả sử dụng tên gọi khác nhau. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi thống nhất thuật ngữ rối loạn ngôn ngữ như sau: Rối loạn ngôn ngữ là một chứng suy giảm ngôn ngữ mắc phải sau tổn thương não ảnh hưởng đến một số hoặc tất cả các phương thức ngôn ngữ: diễn đạt và hiểu lời nói, đọc và viết [35]. Triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ Triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ được nhận định và đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau bởi các chuyên gia y tế nhiều kinh nghiệm.
Qua đó, các triệu chứng này sẽ giúp xác định vị trí và nguyên nhân gây ra tổn thương và thường đi kèm với các triệu chứng của đột quỵ .Thông thường, các triệu chứng được tiếp cận theo các phân loại của rối loạn ngôn ngữ trên ba khả năng là thông hiểu, diễn đạt lưu loát và lặp lại. Có các hội chứng rối loạn ngôn ngữ như sau: * Dấu hiệu thông hiểu còn tốt nhưng lại giảm lưu loát và giảm khả năng lặp lại. Thường đi kèm với yếu liệt và mất cảm giác nửa người bên phải. * Vẫn có khả năng thông hiểu tốt và lặp lại tốt nhưng không diễn tả ngôn ngữ lưu loát được.
Biểu hiện điển hình là bệnh nhân thay đổi cách phát âm và giai điệu lời nói trở nên lộn xộn. * Lời nói vẫn giữ được tính lưu loát tốt, lặp lại tốt trong khi thông hiểu lại giảm. Cụ thể là người bệnh vẫn có thể nói ra những câu dài rõ ràng, đúng ngữ pháp, trôi chảy nhưng lại không tương xứng với câu hỏi. * Người bệnh vừa mắc phải giảm lưu loát và giảm thông hiểu trong khi khả năng lặp lại vẫn còn tốt.
Cụ thể là bệnh nhân chỉ nói được những lời tự phát, các câu ngắn là có khuynh hướng lặp đi lại lại như cũ khi được đặt câu hỏi. * Người bệnh vẫn tự thể hiện bằng lời nói lưu loát với các câu nói dài, trơn tru, đúng ngữ pháp; cách phát âm và nhịp điệu lời nói vẫn bình thường. Tuy nhiên, khả năng nghe hiểu và làm đúng yêu cầu hay trả lời đúng câu hỏi lại kém. 6 * Chỉ gây khiếm khuyết khả năng lặp lại trong khi khả năng thông hiểu và lưu loát vẫn còn tốt.
Theo đó, bệnh nhân vẫn trả lời đúng các câu hỏi bằng những câu nói dài, lưu loát. Tuy nhiên, khi yêu cầu bệnh nhân lặp lại một câu nói hay kể lại câu chuyện, đọc chữ thành tiếng thì lời nói lại trở nên lộn xộn và có hiện tượng thay thế chữ. * Thể nặng nề nhất trong các phân loại rối loạn ngôn ngữ. Người bệnh bị mất tất cả các chức năng nói một cách trầm trọng, bao gồm cả chức năng ngôn ngữ vận động và ngôn ngữ cảm giác.
Phân loại rối loạn ngôn ngữ và tỷ lệ rối loạn ngôn ngữ. Dựa vào đặc điểm của các triệu chứng mà ta có các hội chứng mà từ đó phân ra các thể rối loạn ngôn ngữ sau: * Chứng rối loạn ngôn ngữ của Broca Chứng rối loạn ngôn ngữ của Broca còn được gọi là chứng rối loạn ngôn ngữ vận động. Loại rối loạn ngôn ngữ này có đặc điểm là nói không trôi chảy, người bệnh khó khăn trong việc sản xuất giọng nói, với sự phát âm kém, người bệnh chỉ phát âm được những câu ngắn gọn chỉ vài từ. Các hậu tố ngữ pháp thường không được sử dụng trong các từ, động từ và tính từ, trong khi việc sử dụng danh từ vẫn còn tương đối tốt.
Diễn đạt bằng giọng nói không ổn định vì suy giảm nhịp điệu, giai điệu và đôi khi là diễn đạt căng thẳng. Tuy nhiên, hiểu biết về các cấu trúc ngữ pháp phức tạp và các từ ngữ nối tiếp thường bị suy giảm.