Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu hiệu quả điều trị của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde foley điều trị băng huyết sau sinh tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020 2021

Tài liệu Hiệu quả điều trị băng huyết sau sinh bằng phương pháp đặt bóng chèn l tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

70
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm và phân loại băng huyết sau sinh

1.2. Nguyên nhân gây ra băng huyết sau sinh

1.3. Các yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh

1.4. Điều trị nội khoa băng huyết sau sinh

1.5. Điều trị băng huyết sau sinh bằng bóng chèn lòng tử cung

1.5.1. Nguyên lý cơ bản của bóng chèn lòng tử cung

1.5.2. Nguồn gốc của bóng chèn lòng tử cung

1.5.3. Cơ chế tác dụng của bóng chèn

1.5.4. Các loại bóng chèn lòng tử cung

1.5.5. Phương pháp thực hiện bóng chèn lòng tử cung

1.6. Test chèn ép

1.6.1. Phương pháp chèn liên quan đến test chèn ép

1.6.2. Chỉ định, chống chỉ định chèn bóng

1.7. Chống chỉ định

1.7.1. Sử dụng Oxytocin truyền hoặc Carbetocin sau thủ thuật

1.7.2. Sử dụng kháng sinh sau thủ thuật

1.8. Tổng quan các nghiên cứu về bóng chèn lòng tử cung

1.8.1. Trên thế giới

1.8.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Biến số nghiên cứu

2.2.3. Quy trình chèn bóng

2.2.4. Cách tiến hành và phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm sản phụ được đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

3.1.1. Đặc điểm cơ bản của sản phụ

3.1.2. Tiền sử sản phụ khoa

3.1.3. Tiền sử băng huyết sau sinh

3.1.4. Số lượng thai

3.1.5. Phương pháp đẻ

3.1.6. Chỉ số huyết học

3.1.7. Thời điểm chẩn đoán

3.1.8. Cân nặng con

3.1.9. Chỉ số Apgar

3.1.10. Đánh giá hiệu quả điều trị

3.2. Tỉ lệ thành công, thất bại

3.2.1. Đặc điểm trường hợp thất bại

3.2.2. Tỉ lệ tai biến sau điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm sản phụ được đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley điều trị BHSS tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

4.1.1. Đặc điểm chung

4.1.2. Đặc điểm tiền sử sản khoa và tiền sử băng huyết sau sinh của sản phụ

4.1.3. Đặc điểm thai

4.1.4. Chỉ số huyết học của sản phụ. Về kết quả điều trị

4.2. Về lượng máu mất. Về thời gian chẩn đoán BHSS

4.3. Số trường hợp thất bại. Các yếu tố ảnh hưởng tới điều trị thất bại

4.4. Điểm hạn chế của đề tài

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về băng huyết sau sinh

Băng huyết sau sinh (băng huyết sau sinh) là một trong những tai biến sản khoa nghiêm trọng, có thể dẫn đến tử vong cho sản phụ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tình trạng này được định nghĩa là mất ≥ 500 ml máu trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh. Nguyên nhân chính gây ra tình trạng này thường là do đờ tử cung, sót rau, hoặc chấn thương đường sinh dục. Việc nhận diện và xử trí kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ tử vong. Nghiên cứu cho thấy, nếu không được can thiệp kịp thời, sản phụ có thể rơi vào tình trạng sốc và tử vong. Do đó, việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả như phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung là cần thiết.

1.1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Các nguyên nhân gây ra băng huyết sau sinh bao gồm đờ tử cung, chấn thương đường sinh dục, và sót rau. Đờ tử cung chiếm khoảng 75-90% các trường hợp băng huyết sớm. Các yếu tố nguy cơ trước sinh như tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI), và số lần sinh cũng có thể làm tăng nguy cơ băng huyết. Nghiên cứu cho thấy, tuổi mẹ ≥ 35 có nguy cơ cao hơn, và BMI > 30 cũng liên quan đến tỷ lệ băng huyết cao hơn. Việc nhận diện các yếu tố này có thể giúp các bác sĩ đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Phương pháp điều trị băng huyết sau sinh

Phương pháp điều trị băng huyết sau sinh hiện nay bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong đó điều trị băng huyết bằng phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung được coi là một trong những lựa chọn hiệu quả. Phương pháp này giúp kiểm soát chảy máu bằng cách tạo áp lực lên thành tử cung, từ đó giúp tử cung co lại và giảm thiểu lượng máu mất. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy, tỷ lệ thành công của phương pháp này đạt 96,43%. Điều này cho thấy, việc áp dụng phương pháp này không chỉ hiệu quả mà còn an toàn cho sản phụ.

2.1. Nguyên lý và quy trình thực hiện

Nguyên lý của bóng chèn lòng tử cung là tạo ra áp lực bên trong tử cung để ngăn chặn chảy máu. Quy trình thực hiện bao gồm việc đưa bóng chèn vào lòng tử cung qua âm đạo, sau đó bơm nước vào bóng để tạo áp lực. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phương pháp này có thể được thực hiện một cách an toàn và hiệu quả, với tỷ lệ thành công cao. Tuy nhiên, cần lưu ý đến các chỉ định và chống chỉ định khi thực hiện để đảm bảo an toàn cho sản phụ.

III. Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã chỉ ra rằng, việc áp dụng phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung có hiệu quả cao trong việc điều trị băng huyết sau sinh. Tỷ lệ thành công đạt 96,43%, cho thấy phương pháp này là một lựa chọn khả thi cho các sản phụ gặp phải tình trạng này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các yếu tố như thời gian chẩn đoán và lượng máu mất có ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc theo dõi và đánh giá hiệu quả của phương pháp này là rất cần thiết để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ.

3.1. Đặc điểm của sản phụ và kết quả điều trị

Đặc điểm của sản phụ tham gia nghiên cứu cho thấy, hầu hết đều có tiền sử sản khoa bình thường. Tuy nhiên, một số sản phụ có tiền sử băng huyết trước đó, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Kết quả cho thấy, những sản phụ được chẩn đoán và điều trị kịp thời có tỷ lệ thành công cao hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời trong điều trị băng huyết sau sinh.

IV. Đánh giá và khuyến nghị

Nghiên cứu về hiệu quả điều trị băng huyết sau sinh bằng phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã cung cấp những thông tin quý giá về tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này. Kết quả cho thấy, phương pháp này không chỉ giúp kiểm soát chảy máu mà còn bảo tồn khả năng sinh đẻ cho sản phụ. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và cải thiện quy trình thực hiện. Khuyến nghị cho các bác sĩ là nên áp dụng phương pháp này trong các trường hợp băng huyết sau sinh để giảm thiểu nguy cơ tử vong cho sản phụ.

4.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Việc nâng cao nhận thức về băng huyết sau sinh và các phương pháp điều trị là rất quan trọng. Các bác sĩ và nhân viên y tế cần được đào tạo đầy đủ về các phương pháp điều trị hiện có, cũng như cách nhận diện sớm các dấu hiệu của băng huyết. Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ và giảm thiểu tỷ lệ tử vong liên quan đến băng huyết sau sinh.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu hiệu quả điều trị của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde foley điều trị băng huyết sau sinh tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Khái niệm và phân loại băng huyết sau sinh 1. Khái niệm Thuật ngữ “băng huyết sau sinh” được áp dụng cho những thai kỳ có tuổi thai >20 tuần [8]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới 2018, băng huyết sau sinh (BHSS) là tình trạng là mất ≥ 500 ml máu trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh [9].

Theo Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế, BHSS được định nghĩa là lượng máu mất ≥ 500 ml sau sinh đường âm đạo hoặc ≥ 1000 ml sau sinh mổ. Vì các mục đích lâm sàng, bất kỳ lượng máu mất nào có tiềm năng gây mất ổn định huyết động phải được xem là BHSS[1]. Đánh giá lượng máu mất nhiều hay ít trong thực tế lâm sàng thường không chính xác vì nhiều khi lượng máu chảy ra ngoài âm hộ lẫn với nước ối, vải lót trong chậu và máu không chảy ra ngoài âm hộ mà đọng lại trong buồng tử cung làm chúng ta lầm tưởng là chưa chảy máu tới mức độ bệnh lý và diễn biến bệnh rất nhanh [10]. Nguyên nhân phổ biến là sự co bóp tử cung kém sau khi sinh con [11].

Ngoài ra, các bệnh lý trong thời kỳ sổ thai như sót rau sau đẻ, lộn tử cung, rau cài răng răng lược,… hoặc tổn thương đường sinh dục (vỡ tử cung, rách cổ tử cung, rách âm đạo, rách tầng sinh môn) và các bệnh lý rối loạn đông máu (hiếm gặp) cũng gây ra tình trạng băng huyết sau sinh[12]. Mức độ nguy hiểm của BHSS không chỉ phụ thuộc vào lượng máu mất, mà còn phụ thuộc vào thể trạng của thai phụ, mất máu cấp tính hay chảy máu rỉ rả, được hồi sức kịp thời hay không. Vì vậy cần phải đánh giá và xử trí linh hoạt với từng trường hợp một chứ không phải chỉ thụ động đợi đến khi lượng máu mất trên 500ml sau đẻ thường hoặc sau 1000ml sau mổ đẻ mới can thiệp, tránh dẫn đến việc xử trí chậm trễ và gây nên những hậu quả đáng tiếc [13]. Phân loại có tính quy ước BHSS nguyên phát: hay còn gọi là BHSS sớm, xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau sinh.Thường do các nguyên nhân như: đờ tử cung, sót rau, chảy máu diện rau bám trong rau tiền đạo, chấn thương đường sinh dục, rau bong non,…[14].

3 Luan van BHSS thứ phát: hay còn gọi là BHSS muộn, xảy ra từ 24 giờ tới 12 tuần sau sinh. Theo Groom KM và Jacobson TZ nguyên nhân thường gặp của BHSS muộn là do thoái triển bất thường vùng rau bám, sót rau, nhiễm trùng [15]. Phân loại theo tốc độ nhanh của mất máu Theo Coker vào năm 2012, BHSS được phân theo tốc độ của sự mất máu như: sự chảy máu nặng được phân loại là mất > 150 ml/phút (trong vòng 20 phút, gây mất hơn 50% thể tích máu) hoặc mất máu đột ngột > 1. Nguyên nhân gây ra băng huyết sau sinh Đờ tử cung, chấn thương đường sinh dục, sót rau – rau không bong, rau cài răng lược và rối loạn đông máu được xem là những nguyên nhân chính gây ra băng huyết sau sinh [17].

Trong đó BHSS do đờ tử cung chiếm khoảng 75 - 90% của BHSS sớm [18, 19]. BHSS do tổn thương đường sinh dục chiếm khoảng 20% của BHSS sớm. BHSS do rối loạn đông máu chiếm khoảng 3% của BHSS sớm [20]. BHSS có thể có ≥ 1 nguyên nhân, BHSS muộn (thứ phát) ít gặp hơn BHSS sớm (nguyên phát), chiếm 1 – 3 % các ca sinh [21, 22].

Đờ tử cung Là tình trạng tử cung không co chặt thành khối an toàn sau đẻ để thực hiện tắc mạch sinh lý, do đó gây chảy máu. Các yếu tố gây nên đờ tử cung bao gồm: - Tử cung quá căng: đa thai, đa ối, thai quá to. - Các thuốc làm giãn tử cung: nifedipine, magnesium, beta–mimetics, indomethacin, nitric oxide donors. - Chất lượng cơ tử cung kém do sinh nhiều lần.

- Chuyển dạ nhanh hoặc chuyển dạ kéo dài. - Các thuốc co hồi tử cung để gây chuyển dạ. - Nhiễm khuẩn ối. - Gây mê bằng Halogen.

Trên lâm sàng, đờ tử cung được chia làm hai mức độ [24]: - Đờ tử cung còn hồi phục: trương lực cơ tử cung giảm ngay sau đẻ hoặc sau mổ lấy thai nhưng còn đáp ứng với các kích thích cơ học, lý học, hoá học. 4 Luan van - Đờ tử cung không hồi phục: hệ thống thần kinh cơ tử cung không còn đáp ứng với bất kỳ kích thích nào. Theo Phạm Thị Xuân Minh, nguy cơ đờ tử cung tăng gấp 2 lần ở những sản phụ đẻ lần 2 so với đẻ lần đầu, tăng gấp 3,14 lần ở sản phụ đẻ lần 3 và gấp 3,5 lần ở sản phụ đẻ lần 4 trở lên [25]. Chấn thương đường sinh dục Chấn thương đường sinh dục chiếm 20% của BHSS sớm [23].

Những tổn thương cổ tử cung và âm đạo, có thể bị ngay cả trong các trường hợp đẻ thường. Tuy nhiên biến chứng này thường gặp hơn trong những trường hợp sau: - Tổn thương âm hộ- âm đạo. - Cắt tầng sinh môn/rách tầng sinh môn. - Thai quá to.

- Sinh quá nhanh [16]. Nguyên nhân do rau 1. Sót rau Sót rau nhiều hay ít trong tử cung đều gây chảy máu vì rau sót làm tử cung không co chặt được. Có thể gặp sau đẻ thường, sau đẻ thiếu tháng, sinh có can thiệp bằng các thủ thuật sản khoa, sau sinh thai chết lưu, hãn lưu có thể sót rau sau mổ lấy thai [24].

Rau cài răng lược Đây là bệnh lý hiếm gặp của rau [24]. Là trường hợp gai rau bám trực tiếp vào cơ tử cung, giữa các gai rau và cơ tử cung không có lớp xốp của ngoại sản mạc. Do đó, bánh rau bám sâu vào lớp cơ tử cung có khi xuyên tới thanh mạc tử cung. Thường gặp ở người đẻ nhiều lần, nạo thai nhiều lần, tiền sử viêm niêm mạc tử cung [24].

Rau tiền đạo Rau tiền đạo là bánh rau bám ở đoạn dưới và cổ tử cung, nó chắn phía trước cản trở đường ra của thai nhi khi chuyển dạ đẻ [24]. Đây là một trong những bệnh lý của bánh rau về vị trí bám. Nó gây chảy máu trong 3 tháng cuối thời kỳ thai nghén, trong chuyển dạ và sau đẻ. Rau tiền đạo là một cấp cứu trong sản khoa.

Rau bám chặt, rau cầm tù 5 Luan van Rau bám chặt là rau khó bong do lớp xốp kém phát triển nhưng vẫn có thể bóc được toàn bộ bánh rau bằng tay [24]. Rau cầm tù là rau đã bong nhưng không sổ tự nhiên được vì mắc kẹt ở một sừng của tử cung do một vòng cơ thắt của lớp cơ đan chéo [24]. Đặc biệt hay gặp rau cầm tù trong tử cung dị dạng hoặc tử cung hai sừng. Rau bám chặt và rau cầm tù làm kéo dài giai đoạn sổ rau và cản trở co hồi tử cung gây nên BHSS [24, 25].

Rối loạn đông máu Mắc phải trong thai kỳ: giảm tiểu cầu của hội chứng HELLP, đông máu nội mạch rải rác (sản giật, thai chết lưu trong tử cung, nhiễm khuẩn huyết, rau bong non, tắc mạch ối), tăng huyết áp trong thai kỳ, tình trạng nhiễm khuẩn huyết [24]. Di truyền: bệnh Von Willebrand. Liệu pháp chống đông: thay van tim, bệnh nhân nằm nghỉ tuyệt đối [16]. Theo Phạm Thị Xuân Minh, rối loạn đông máu chiếm tới 6,3% các nguyên nhân BHSS [25].

Các nguyên nhân khác Can thiệp không đúng trong thời kỳ sổ rau: các động tác đẩy ép tử cung hoặc kéo mạnh vào dây rốn khi rau chưa bong có thể làm rối loạn cơ chế bình thường của thời kì sổ rau gây BHSS, đôi khi cũng gây lộn tử cung và choáng nặng [24]. Các yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh 1. Các yếu tố nguy cơ trước sinh: - Tuổi: tuổi mẹ tăng là yếu tố nguy cơ độc lập với BHSS. Tuổi ≥ 35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,9); tuổi >40 (không-phải con rạ) có OR = 1,4 [26].

- Chỉ số khối cơ thể (BMI): béo phì có tỷ lệ cao biến chứng chảy máu trong khi sinh và sau sinh. BMI >30 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,8) khi so với BMI 20 – 30; BMI >35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 2 [26, 27]. - Số lần sinh: các nghiên cứu gần đây chưa tìm thấy mối liên quan giữa đẻ nhiều với BHSS, tuy nhiên, Ohkuchi lại tìm thấy sản phụ con so đi kèm với mất máu quá mức lúc sinh đường âm đạo (OR = 1,6; 95% KTC 1,4 - 1,9) [28]. - Thai to: các nghiên cứu cho thấy thai to đi kèm với BHSS.

Tại Anh, thai >4000g liên quan đến OR = 2,01 (95% KTC 1,93 - 2,1). Tại Mỹ, thai 4000 - 4499g liên quan đến OR = 1,69 (95% KTC 1,58 - 1,82) [27]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh cho thấy thai to >4500g có OR = 2,05 [29]. 6 Luan van - Đa thai: nhiều nghiên cứu cho thấy đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS.

Theo Hamamy, thai kỳ đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 5 [26]. Nhiều nghiên cứu ước tính RR của BHSS đi kèm với thai kỳ đa thai là 3,0 - 4,5 [27]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh cho thấy đa thai có OR = 2,4 [29]. - U xơ tử cung: một nghiên cứu tại Nhật Bản đã cho thấy u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 1,9 (95% KTC 1,2 - 3,1) sau sinh đường âm đạo [27].

Theo Unterscheider u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2 [23]. - Rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ: Theo Hamamy, tiền sản giật/tăng huyết áp thai kỳ là nguy cơ trước sinh gây BHSS với OR = 4 [26]. - Thiếu máu trước sinh: thiếu máu trước sinh từ trung bình đến nặng là yếu tố nguy cơ gây BHSS với OR = 2,14; thiếu máu trước sinh (Hb <9g/dL) là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2 [26]. - Chảy máu trước sinh: + Rau bong non: nguy cơ BHSS với OR = 12,6 đến 13 theo Stones[27].

+ Rau tiền đạo: nguy cơ BHSS với OR = 12, đến = 13,7 [26, 27]. + Rau tiền đạo đi kèm với BHSS có OR = 4,4 theo Ohkuchi[27]. - Tiền sử băng huyết sau sinh: tiền sử BHSS đi kèm với nguy cơ BHSS lần sinh tiếp theo với OR = 2,2 (95% KTC 1,7 - 2,9) đến OR = 3 [26, 27]. Các yếu tố nguy cơ trong chuyển dạ và sau sinh 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hiệu quả điều trị băng huyết sau sinh bằng bóng chèn lòng tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (2020-2021)" của tác giả Nguyễn Vũ Thảo Ngọc, dưới sự hướng dẫn của PGS. Mạc Đăng Tuấn, trình bày một nghiên cứu quan trọng về phương pháp điều trị băng huyết sau sinh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của việc sử dụng bóng chèn lòng tử cung mà còn góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về quy trình điều trị, kết quả đạt được và những khuyến nghị cho các phương pháp điều trị trong tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sản phụ khoa và chăm sóc sức khỏe, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở sản phụ tại bệnh viện Phụ sản Cần Thơ năm 2014-2015, nơi cung cấp thông tin về tình trạng thai to và các yếu tố ảnh hưởng, và Nghiên cứu về chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình mổ lấy thai và các chỉ định liên quan. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực sản phụ khoa.