Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực ở một xã, phường, thị trấn, là nơi thực hiện dân chủ trực triếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản, tô chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của cấp trên giao [6]. Nhân viên Y tế thôn, bản là cụm từ được gọi chung cho những người làm công tác y tế tại các thôn, ấp, bản, buôn, làng, phum, sóc.; Nhân viên y tế thôn, bản phải có trình độ chuyên môn về y từ sơ cấp trở lên hoặc đã qua các lớp đào tạo nhân viên y tế thôn, bản theo khung chương trình được Bộ Y tế quy định, tối thiểu là 3 tháng [10]. Đối tượng nảy phải sinh sống, làm việc ôn định tại thôn, bản; tự nguyện tham gia làm nhân viên y tế thôn, bản; có tỉnh thần trách nhiệm, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội, có khả năng vận động quần chúng, được cộng đồng tín nhiệm; đồng thời có đủ sức khỏe đề thực hiện nhiệm vụ theo quy định [10, 33].
Chăm sóc sức khoả ban đầu (CSSKBĐ) được Hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu họp tại Alma Ata (1978) định nghĩa như sau: “CSSKBĐ là những chăm sóc thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, có thể phổ biến rộng rãi tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đây đủ của họ với chỉ phí mà cộng đồng và nước đó có thể chấp nhận được để duy trì hoạt động chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ở mọi giai đoạn phát triển trên tỉnh thần tự nguyện, tự giác ” [21]. CSSKBĐ là một hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc: Công bằng, Phát triển, Tự lực, Ky thuật phù hợp, Dự phòng thích hợp, Hoạt động liên ngành và Cộng đồng tham gia [58, 60]. CSSKBĐ bao gồm 8 nội dung như sau [21, 60]: 1. Giáo dục sức khoẻ (GDSK) 2.
Cải thiện điều kiện dinh dưỡng - ăn uống. Cung cấp nước sạch - Thanh khiết môi trường. Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hoá gia dinh (BVSKBMTE -KHHGD). Tiêm chủng mở rộng (TCMR).
Phòng và chống bệnh dịch lưu hành. Khám chữa bệnh và thương tích thông thường. Cung cấp thuốc thiết yếu. Nội dung CSSKBĐ tại Việt Nam gom 8 nội dung trên và bổ sung thêm 2 nội dung có tính đặc thù đó là: - Củng cô màng lưới y tẾ cơ sở: - Quản lý sức khoẻ.
Theo các nhà nghiên cứu cộng đồng trên thế gidi, muốn thực hiện được CSSKBĐ cần phải có chính sách Y tế đúng đắn, phải có tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá phù hợp. Trong chiến lược sức khỏe của hầu hết các nước trên thế giới, CSSKBĐ được đặt ra hàng đầu, giải quyết mọi khó khăn để đạt được mục đích. Về mặt tổ chức hoạt động CSSKBĐ, hầu hết các nước rất chú ý quan tâm, phát triển tổ chức Y tế tuyến huyện, ở nhiều nước đây là tuyến thực hiện CSSKBĐ. Trong CSSKBĐ công tác y học dự phòng được nhiều nước trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Vệ sinh môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong công tác y học dự phòng, vấn đề này được tuyên truyền cho nhân đân một cách sâu rộng như tuyên truyền vệ sinh cá nhân người mẹ trong việc góp phần làm giảm tỉ lệ trẻ bị tiêu chảy, rửa tay trước khi ăn phòng bệnh tiêu chảy, giáo dục cho trẻ em tuổi học đường về thái độ, hành vi đối với vệ sinh cá nhân. Trong vệ sinh môi trường, việc cung cấp đủ nước sạch cho sinh hoạt là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều quốc gia. Thanh toán nguồn nước không vệ sinh là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia châu Phi, châu Á để làm giảm tỉ lệ chết trẻ em do bị tiêu chảy [51]. Mặt khác, công tác chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ đặc biệt là những bà mẹ có thai là hết sức quan trọng.
Người phụ nữ cần được khám thai, tiêm phòng uốn ván thường xuyên và cung cấp đinh dưỡng đầy đủ. Việc phòng chống các bệnh dịch lưu hành như các bệnh nhiễm trùng, sốt rét cũng là những vấn đề cần quan tâm [47, 60]. Thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản 1. Mô hình Nhân viên y tế thôn bản ở một số nước trên thé giới Mô hình xây dựng đội ngũ nhân viên Y tế cộng đồng được chú ý ở nhiều nước trên thế giới.
Đội ngũ này sẽ đóng góp thoả đáng vào công tác CSSKBĐ ở cộng đồng cũng như thúc đẩy sự phát triển sức khoẻ, văn hoá, xã hội ở cộng đồng. Nhân viên y tế thôn bản hoạt động như một đầu mối quan trọng đề nối liền cộng đồng với hệ thống Y tế [38, 46]. Ở Thái Lan đã xây dựng 2 loại nhân viên Y tế cộng đồng đó là: Thông tin viên Y tế và nhân viên Y tế tình nguyện thôn bản [48, 50]. Thông tin viên được đào tạo bồi dưỡng kiến thức để họ có thé tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho 1 nhóm 10 - 15 hộ gia đình.
Cứ 10 thông tin viên Y tế có một nhân viên Y tế tình nguyện, những nhân viên Y tế này được đảo tạo tốt hơn, trách nhiệm cao hơn trong việc cải thiện sức khoẻ, phòng bệnh và giải quyết một số bệnh đơn giản [50, 52]. Tại Nê Pan, người ta xây dựng đội ngũ nhân viên y tế thôn bản làm đầu mối quan trọng giữa các trung tâm y tế và cộng đồng. Nhân viên y tế thôn bản thường sống xa Trung tâm y tế. Dưới sự phân công của của trạm y tế, nhân viên này có nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người dân tại cộng đồng, không có nhiệm vụ điều trị người bệnh mà chủ yếu vận chuyên người bệnh đến Trung tâm y tế.
Hàng tháng nhân viên y tế thôn bản sẽ đến Trung tâm y tế vài ngày để báo cáo tình hình sức khỏe của nhân dân trong cộng đồng [54]. Tại Việt Nam 1. Công tác CSSKBĐ và vai trò của mạng lưới y tế thôn bản Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang mà Đảng, Chính phủ và nhân dân tin tưởng giao trọng trách đó cho ngành y tế [3, 19].
Hệ thống tô chức y tế ở nước ta được chia thành 4 tuyến: Tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã. Mạng lưới y tế cơ sở được xác định bao gồm y tế tuyến huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và y tế tuyến xã (phường, thị trấn) trong đó có y tế thôn, ban [4, 11]. Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở cùng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng có chất lượng hiệu quả, là hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, làm cho mọi người dân đều có điều kiện thuận lợi tiếp cận các dịch vụ y tế, nhất là vùng sâu vùng xa, vung hẻo lánh, điều kiện giao thông không thuận lợi [47]. Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách giữa người giầu và người nghẻo ngày càng xa, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị cũng còn nhiều khác nhau.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Trong ngành y tế, cung cấp hỗ trợ thuốc ở các xã có chương trình 135 đã giải quyết một phần khó khăn về thuốc chữa bệnh cho nhân dân tại địa phương. Đất nước đang chuyên tiếp theo công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phương tiện giao thông hiện đại giao lưu quốc tế thuận lợi, càng làm cho một số bệnh nguy hiểm dễ lây lan thành dịch bệnh lớn. Do vậy công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm dịch bệnh ở y tế cơ sở là rất cần thiết, cho cả khu vực thành thị và nông thôn, tại thành thị nơi tập trung đông người đi lại thuận tiện, việc phát hiện dịch bệnh sớm, dập tắt dịch bệnh kịp thời là rất cần thiết [30, 37].
Quá trình hình thành tổ chức và hoạt động của Y tế thôn bản ở Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử phát triển đất nước được thể hiện: Trong thời kỳ bao cấp, đội ngũ "Vệ sinh viên thôn, đội" gắn liền với hợp tác xã (HTX) và đội sản xuất nông nghiệp. Chế độ đãi ngộ của người CBYT được đảm bảo, cán bộ trạm y tế được hưởng sinh hoạt phí tính bằng thóc tương đương với cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã. Cán bộ y tế đội sản xuất cũng được hưởng sinh hoạt phí tương đương với đội trưởng sản xuất. Giai đoạn này hoạt động YTTB có nề nếp, góp phần tích cực CSSK nhân dân.
Từ sau khoán 10, nhất là chuyển đổi cơ chế quản lý trong nông nghiệp, ruộng đất khoán tới hộ gia đình và người nông dân, ai cũng lo canh tác trên mảnh đất của mình, không còn ai chăm lo cho đội ngũ YTTB. Vì thế, mạng lưới y tế cơ sở không đảm bảo về chế độ đãi ngộ đã lần lượt tan rã. Trước tiên là đội ngũ y tế đội sản xuất, sau là đội ngũ cán bộ trạm y tế, nhiều trạm chỉ còn làm việc cầm chừng. Việc xuống cấp của mạng lưới y té co sở làm ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của nhân dân [25].
Các chương trình y tế phải triển khai tới tận người dân nhưng thường đến xã là bị dừng lại, chỉ có một số chương trình có kinh phí thì mới được triển khai như tiêm chủng mở rộng (TCMR), sinh đẻ kế hoạch. Hiện tại nước ta có trên 80.000 thôn, bản thuộc 9,073 xã, phường, thị trấn [36].061 thôn bản thuộc 2.446 ấp thuộc 692 xã vùng sâu - Có 5.232 thôn bản thuộc 575 xã vùng trung du - Có 3.112 thôn bản thuộc 342 xã biên giới - Có 170 thôn bản thuộc 31 xã hải đảo Đặc biệt cả nước có 1.072 bản thuộc khu vực đặc biệt khó khăn — khu vực rất cần có NVYTTB hoạt động [36]. Bình quân ở tuyến y tế xã có số nhân viên trung bình là 4,5 người /trạm y tế.