ĐẶT VẤN ĐỀ Chất lƣợng dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đang là một trong những mối quan tâm lớn của Ngành Y tế nói chung và các bệnh viện nói riêng bởi chất lƣợng k m sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến tính mạng, chất lƣợng cuộc sống và sự hài lòng của ngƣời bệnh. Chất lƣợng chăm sóc của điều dƣỡng là một phần quan trọng trong toàn bộ chất lƣợng dịch vụ chăm sóc y tế [42]. Trong bệnh viện, chăm sóc điều dƣỡng bắt đầu từ khi tiếp nhận ngƣời bệnh cho đến lúc ngƣời bệnh ra viện, bao gồm: Chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dƣỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe cho NB. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhận định dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dƣỡng viên và hộ sinh viên cung cấp là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế.
Vì vậy, muốn nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc điều dƣỡng [15]. Tại Việt Nam, vị thế của ngƣời điều dƣỡng đã có sự thay đổi tích cực, đƣợc thể hiện qua các chính sách về điều dƣỡng viên, các chuẩn mực về hành nghề điều dƣỡng đang đƣợc bổ sung, hoàn thiện. Sự đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc NB toàn diện, chuẩn hóa các kỹ thuật điều dƣỡng. Tuy nhiên, ngành điều dƣỡng đang đứng trƣớc nhiều thách thức của sự phát triển: Thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành về điều dƣỡng; Khoa học Điều dƣỡng chƣa phát triển kịp với những tiến bộ của điều dƣỡng thế giới trong đào tạo điều dƣỡng; vị thế và hình ảnh ngƣời điều dƣỡng trong xã hội tuy đã có thay đổi nhƣng chƣa đƣợc định hình rõ ràng [8].
Hiện nay tại các bệnh viện đã và đang triển khai thông tƣ 07/2011/TT - BYT ngày 26/01/2011 về “Hƣớng dẫn công tác điều dƣỡng về chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện”, trong đó Điều 3 của nguyên tắc chăm sóc ngƣời bệnh trong bệnh viện quy định: “Người bệnh là trung tâm c a công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên t c, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn [7]. Trong bệnh viện CSĐD là rất quan trọng, nếu hoạt động CSĐD tốt sẽ giảm đƣợc thời gian nằm viện của NB, giảm chi phí điều trị, giảm nguy cơ biến chứng và nhanh chóng phục hồi sức khỏe cho NB. 2 Trên Thế giới, đã có một số nghiên cứu về sự hài lòng của ngƣời bệnh về CSĐD. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Anh năm 2012, cho biết tỷ lệ hài lòng chung của ngƣời bệnh với chất lƣợng chăm sóc của điều dƣỡng là 79,5% và chỉ rõ 4 yếu tố tƣơng tác giữa NB và điều dƣỡng: Các chăm sóc hỗ trợ tinh thần cho NB, kỹ năng chuyên môn của điều dƣỡng, giải thích hoạt động chăm sóc và sự tham gia của NB trong việc ra các quyết định chăm sóc, cung cấp thông tin và sự giáo dục sức khỏe cho NB [1].
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc Việt Nam, Ngành Y tế tỉnh Tuyên Quang trong những năm vừa qua đƣợc nâng cấp đáng kể về trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị; tăng cƣờng chất lƣợng khám và điều trị. Tuy nhiên, chƣa đáp ứng đƣợc những nhu cầu ngày càng cao trong công tác chăm sóc sức khỏe của ngƣời dân [24]. Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng II, với 500 giƣờng bệnh, công suất sử dụng giƣờng bệnh của bệnh viện đạt 123,8%, tổng số lần khám bệnh năm 2011 là 109,728 lần [20]. Mục tiêu chung năm 2012 của bệnh viện là: “Từng bƣớc nâng cao chất lƣợng dịch vụ bệnh viện với phƣơng châm đáp ứng sự hài lòng của ngƣời bệnh” [19].
Khoa Nội Tổng hợp là một khoa có số lƣợng ngƣời bệnh quá tải nhiều nhất tại bệnh viện. Qua khảo sát sơ bộ, phỏng vấn một số ngƣời bệnh đang điều trị tại Khoa Nội Tổng hợp chuyên điều trị những bệnh liên quan đến: Tim mạch, hô hấp, nội tiết, các bệnh về máu… cho thấy có nhiều bất cập về chăm sóc điều dƣỡng nhƣ: Thái độ, giao tiếp ứng xử… với ngƣời bệnh. Trong khi đó, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang chƣa có nghiên cứu nào đánh giá về chất lƣợng CSĐD thông qua sự hài lòng của NB. Tìm hiểu sự hài lòng của NB với công tác CSĐD tại Khoa Nội tổng hợp nhƣ thế nào? Những yếu tố nào ảnh hƣởng đến sự hài lòng của ngƣời bệnh về công tác CSĐD tại Khoa Nội Tổng hợp? Làm thế nào để nâng cao chất lƣợng công tác CSĐD tại khoa nói riêng và toàn bệnh viện nói chung? Để trả lời cho những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ s tr v t só đ u d ỡ tạ K o N Tổ ợp, B v đa khoa tỉ Tuyê Qu , 2013”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá sự hài lòng của ngƣời bệnh nội trú về công tác chăm sóc điều dƣỡng tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2013. Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của ngƣời bệnh nội trú với công tác chăm sóc điều dƣỡng tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2013. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm và chức năng về Bệnh viện 1. K v v Theo định nghĩa của WHO: “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vƣơn tới cả gia đình và môi trƣờng cƣ trú. Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh học xã hội” [13]. Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động: - Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, NB vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng… - Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là NB, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị. Đầu ra là NB khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc NB tử vong [23]. C ứ v Bệnh viện hạng II có các chức năng của sau: (1) - Cấp cứu, khám, chữa bệnh: Tiếp nhận tất cả các trƣờng hợp NB từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú. Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nƣớc.
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và các ngành. Tổ chức khám giám định sức khoẻ, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trƣng cầu. Chuyển NB lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết. 5 (2) - Nhiệm vụ về đào tạo cán bộ: Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc Đại học và Trung học.
Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dƣới nâng cao trình độ chuyên môn. (3) - Nhiệm vụ về nghiên cứu khoa học: Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật y học ở cấp Nhà nƣớc, cấp bộ, cấp Cơ sở. Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu lựa chọn ƣu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành. Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện.
(4) - Nhiệm vụ về chỉ đạo tuyến: Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dƣới (Bệnh viện hạng III) thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn. Kết hợp với bệnh viện tuyến dƣới thực hiện các chƣơng trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành. (5) - Nhiệm vụ về phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thƣờng xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch. (6) - Nhiệm vụ về hợp tác quốc tế: Đƣợc hợp tác với các tổ chức và cá nhân ở ngoài nƣớc theo quy định của Nhà nƣớc.
(7) - Nhiệm vụ về quản lý kinh tế y tế: Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nƣớc cấp. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nƣớc về thu, chi tài chính, từng bƣớc thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tƣ của nƣớc ngoài và các tổ chức kinh tế khác [4]. Lịch sử phát triển Ngành điều dƣỡng thế giới và Việt Nam 1.
Lị sử p t tr ể N đ ud ỡ trê t ế ớ Từ thời xa xƣa do chƣa hiểu biết, con ngƣời tin vào thần linh, thƣợng đế, khi có bệnh họ mời pháp sƣ đến, vừa điều trị vừa cầu kinh. Các đền miếu đƣợc xây dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị ngƣời bệnh. Tại đây, các pháp sƣ điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa giúp lễ vừa phụ 6 giúp chăm sóc ngƣời bệnh từ đó hình thành mối liên kết Y khoa - điều dƣỡng và Tôn giáo [17]. Florence Nightingale (1820-1910) là ngƣời sáng lập ra ngành điều dƣỡng.
Năm 30 tuổi, bà đã trở thành ngƣời điều hành và tổ chức chăm sóc sức khoẻ cho những ngƣời nghèo khổ tại thủ đô nƣớc Anh, sắp xếp hợp lý và đƣa ra các tiêu chuẩn cho công tác ĐD [16]. Florence Nightingale đã lập hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trƣờng đào tạo ĐD đầu tiên trên thế giới ở nƣớc Anh vào năm 1860. Trƣờng điều dƣỡng Nightingale cùng với chƣơng trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo ĐD không chỉ ở Vƣơng Quốc Anh mà còn ở nhiều nƣớc khác trên thế giới. Để tƣởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence Nightingale đã dày công xây dựng.
Hội đồng điều dƣỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12 tháng 5 hàng năm, ngày sinh của Florence Nightingale, là ngày Điều dƣỡng quốc tế.