Tình trạng thấp còi và nuôi ăn ở trẻ em 6 24 tháng tuổi tại phòng khám dinh dưỡng bệnh viện nhi đồng 2 thành phố hồ chí minh

Chuyên khảo y tế phân tích Tình trạng thấp còi và nuôi ăn ở trẻ em 6 24 tháng tuổi tại phòng khám dinh dưỡng bệnh viện nhi, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Nhi tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa cấp II

2021

116
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Suy dinh dưỡng thấp còi

1.2. Định nghĩa suy dinh dưỡng

1.3. Nguyên nhân suy dinh dưỡng

1.3.1. Nguyên nhân trực tiếp

1.3.2. Nguyên nhân quan trọng

1.3.3. Nguyên nhân cơ bản

1.4. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em

1.4.1. Quần thể tham khảo của WHO (2006)

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6 - 24 tháng tuổi

3.3. Tỷ lệ nuôi ăn đúng của trẻ 6 - 24 tháng tuổi

3.4. Mối liên quan giữa thấp còi với nuôi ăn đúng ở trẻ em 6 - 24 tháng tuổi và các yếu tố ảnh hưởng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6 - 24 tháng tuổi

4.3. Tỷ lệ nuôi ăn đúng ở trẻ 6 - 24 tháng tuổi

4.4. Mối liên quan giữa thấp còi với nuôi ăn đúng ở trẻ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng

4.5. Hạn chế của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN BÀ MẸ CÓ CON 6 - 24 THÁNG TUỔI

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tình Trạng Thấp Còi Ở Trẻ Em 6 24 Tháng

Tình trạng thấp còi ở trẻ em 6-24 tháng tuổi là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt là tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trẻ em thấp còi không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn tác động đến khả năng học tập và phát triển trí tuệ sau này. Tình trạng này thường xảy ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và các bệnh lý nhiễm trùng. Việc hiểu rõ về tình trạng này là cần thiết để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

1.1. Định Nghĩa và Nguyên Nhân Gây Thấp Còi

Thấp còi được định nghĩa là tình trạng trẻ không đạt chiều cao theo độ tuổi, thường được xác định qua chỉ số Z-score. Nguyên nhân chính bao gồm thiếu dinh dưỡng, bệnh lý nhiễm trùng và điều kiện sống không đảm bảo.

1.2. Tác Động Của Thấp Còi Đến Sức Khỏe Trẻ Em

Tình trạng thấp còi có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng, bao gồm chậm phát triển thể chất và trí tuệ. Trẻ em thấp còi có nguy cơ cao mắc các bệnh lý và gặp khó khăn trong học tập.

II. Vấn Đề Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em 6 24 Tháng Tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2

Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, tình trạng dinh dưỡng trẻ em 6-24 tháng tuổi đang là một vấn đề đáng lo ngại. Nhiều trẻ em đến khám có dấu hiệu suy dinh dưỡng, đặc biệt là thấp còi. Việc đánh giá chế độ ăn uống và thực hành nuôi dưỡng là rất quan trọng để xác định nguyên nhân và tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Thực Trạng Dinh Dưỡng Của Trẻ Em Tại Bệnh Viện

Nhiều trẻ em đến khám tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 không được nuôi dưỡng đúng cách, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Các chỉ số nhân trắc cho thấy tỷ lệ trẻ thấp còi vẫn ở mức cao.

2.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Dinh Dưỡng Trẻ Em

Các yếu tố như kiến thức dinh dưỡng của cha mẹ, điều kiện kinh tế và môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Việc thiếu hiểu biết về dinh dưỡng có thể dẫn đến thực hành nuôi ăn không đúng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Trạng Thấp Còi Ở Trẻ Em

Nghiên cứu tình trạng thấp còi và dinh dưỡng ở trẻ em 6-24 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 được thực hiện thông qua các phương pháp khảo sát và phân tích số liệu. Việc thu thập thông tin từ cha mẹ và đánh giá các chỉ số nhân trắc là rất quan trọng.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, thu thập dữ liệu từ trẻ em đến khám tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Các chỉ số như chiều cao, cân nặng được ghi nhận và phân tích.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu thu thập được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định tỷ lệ thấp còi và mối liên hệ với chế độ dinh dưỡng. Kết quả sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị can thiệp.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tình Trạng Thấp Còi

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ em thấp còi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 vẫn ở mức cao. Nhiều trẻ không được nuôi ăn đúng cách, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng. Các chỉ số nhân trắc cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chế độ dinh dưỡng cho trẻ.

4.1. Tỷ Lệ Thấp Còi Ở Trẻ Em

Tỷ lệ trẻ em thấp còi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 được ghi nhận là cao hơn mức trung bình quốc gia. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

4.2. Mối Liên Quan Giữa Dinh Dưỡng và Thấp Còi

Nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ dinh dưỡng không đầy đủ có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng thấp còi. Việc cải thiện thực hành nuôi ăn có thể giúp giảm tỷ lệ thấp còi ở trẻ.

V. Giải Pháp Cải Thiện Tình Trạng Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em

Để cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em 6-24 tháng tuổi, cần có các giải pháp đồng bộ từ gia đình đến cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức về dinh dưỡng và thực hành nuôi ăn đúng cách là rất quan trọng.

5.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Dinh Dưỡng

Cần tổ chức các buổi tập huấn cho cha mẹ về dinh dưỡng và thực hành nuôi ăn đúng cách. Việc này sẽ giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ.

5.2. Cải Thiện Chế Độ Dinh Dưỡng

Cần có các chương trình hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ em, bao gồm cung cấp thực phẩm bổ sung và tư vấn dinh dưỡng cho gia đình.

VI. Kết Luận Về Tình Trạng Thấp Còi Ở Trẻ Em

Tình trạng thấp còi và dinh dưỡng ở trẻ em 6-24 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 là một vấn đề cần được quan tâm. Việc cải thiện chế độ dinh dưỡng và thực hành nuôi ăn đúng cách sẽ giúp giảm tỷ lệ thấp còi và nâng cao sức khỏe cho trẻ em.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng.

6.2. Khuyến Nghị Chính Sách

Cần có các chính sách hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ em, đặc biệt là trong giai đoạn 6-24 tháng tuổi. Việc này sẽ góp phần giảm tỷ lệ thấp còi và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

09/07/2025
Tình trạng thấp còi và nuôi ăn ở trẻ em 6 24 tháng tuổi tại phòng khám dinh dưỡng bệnh viện nhi đồng 2 thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. SDD thấp còi ở trẻ em là một trong những chỉ số đánh giá nguồn nhân lực cho tương lai. SDD thấp còi tác động đến 1/3 số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [54]. Thuật ngữ “thấp còi” được sử dụng để mô tả tình trạng trẻ em không đạt đầy đủ chiều cao theo độ tuổi.

Thể hiện ở chỉ số “chiều cao theo tuổi” thấp hơn -2 Zcore hoặc dưới - 2SD so với quần thể chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2006 [36]. SDD thấp còi vừa là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiều cao người trưởng thành thấp và giảm các các chức phận cơ thể ở tuổi trưởng thành vừa là dấu hiệu chính đánh dấu một quá trình quan trọng trong những năm đầu đời dẫn đến tăng trưởng kém và các hậu quả xấu khác. Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy, những đứa trẻ bị thấp còi vào những năm đầu của cuộc đời sau này thường có nguy cơ cao bị béo phì so với trẻ bình thường [54]. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và UNICEF (2017) trên toàn cầu, tỷ lệ SDD thấp còi giảm 29,5% xuống 22,9% giữa năm 2005 và 2016, mặc dù vậy vẫn còn 155 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mắc SDD thấp còi [115].

Theo báo cáo của UNICEF (2016), một nửa số tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi là do suy dinh dưỡng và ít nhiều liên quan đến thấp còi [114]. Suy dinh dưỡng thấp còi là bệnh có thể can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và hậu quả của bệnh gây ra. Tại Việt Nam, công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã thu được những thành tựu đáng khích lệ, tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn ở mức cao. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể thấp năm 2010 là 29,3%, giảm xuống còn 24,6% năm 2015 và 23,2% năm 2018 [37].

Báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2017, Việt Nam thuộc 20 nước có chiều cao thấp nhất thế giới [37]. Ở giai đoạn 6 - 24 tháng tuổi, các hạn chế về thực hành ăn bổ sung đúng. cách, bổ sung đa vi chất, phòng chống nhiễm khuẩn và thực hành vệ sinh nước sạch môi trường được xác định là yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ. Trong khi đó, giai đoạn này được đánh giá là một trong những cửa sổ cơ hội cuối cùng có thể tác động can thiệp lên tăng trưởng tầm vóc và giảm suy dinh dưỡng thấp còi [36], [2].

Thực hành nuôi ăn cho trẻ không phù hợp là nguy cơ cao nhất của suy dinh dưỡng, bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi và hơn 2/3 trẻ em tử vong liên quan đến suy dinh dưỡng là kết hợp với thực hành cho ăn không phù hợp trong 24 tháng đầu đời [101]. Có nhiều nghiên cứu về tình trạng thấp còi và thực hành nuôi ăn cho trẻ nhỏ trên thế giới và ở Việt Nam với nhiều kết quả khác nhau phụ thuộc vào điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của từng quốc gia, từng vùng miền. Phần lớn các nghiên cứu được thực hiện tại cộng đồng, chưa có nghiên cứu nào ở phòng khám dinh dưỡng. Tại Phòng khám Dinh dưỡng của Bệnh viện Nhi Đồng 2 - TP.HCM, mỗi ngày tiếp nhận khoảng 40 - 50 trẻ em dưới 5 tuổi cư trú ở TP.HCM, các tỉnh miền Đông Nam bộ, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến khám, tư vấn và điều trị các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng (biếng ăn, chậm tăng trưởng, chế độ dinh dưỡng…).

Tại đây, trẻ được thu thập các chỉ số nhân trắc về cân nặng, chiều cao, đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo Z-score, khám, tư vấn và thực hành dinh dưỡng. Câu hỏi đặt ra là tình trạng dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6 - 24 tháng tuổi đến khám tại phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.HCM hiện nay như thế nào? Việc thực hành nuôi ăn cho trẻ 6 - 24 tháng tuổi ra sao? Và mối liên quan giữa thấp còi với nuôi ăn đúng và một số yếu tố ảnh hưởng là như thế nào? Chính những câu hỏi trên cần có bằng chứng khoa học chứng minh là lý. do để chúng tôi tiến hành đề tài “Tình trạng thấp còi và nuôi ăn ở trẻ em 6 - 24 tháng tuổi tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm mục tiêu nghiên cứu sau: 1. Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em 6 - 24 tháng tuổi tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh.

Xác định tỷ lệ nuôi ăn đúng ở trẻ em 6 - 24 tháng tuổi tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định mối liên quan giữa thấp còi với nuôi ăn đúng ở trẻ em 6 - 24 tháng tuổi tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố ảnh hưởng. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Suy dinh dƣỡng thấp còi 1.

Định nghĩa suy dinh dưỡng SDD được dùng để chỉ hậu quả sinh hóa và hoặc hoặc thể chất của nhập dưỡng chất không đầy đủ lâu dài, bệnh thường được phát hiện trên lâm sàng bằng thiếu cân nặng theo tuổi hoặc theo chiều cao. Các chỉ số nhân trắc dưới - 2SD được xem là thiếu dinh dưỡng ở mức độ trung bình và nặng [121], [32]. SDD protein năng lượng là những tình trạng gây ra do thiếu đạm và năng lượng với nhiều mức độ khác nhau [19], [84]. Nguyên nhân suy dinh dưỡng SDD do tác động của nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình.

Các nguyên nhân gồm: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân quan trọng, nguyên nhân cơ bản và nó ảnh hưởng đến SDD nói chung và SDD thấp còi ở các cấp độ khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD ở trẻ là thiếu ăn về số lượng, không đảm bảo chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Trong đó, chất lượng khẩu phần ăn cần xem xét hơn là số lượng khẩu phần, trong đó vai trò của protein động vật, chất béo, vitamin, vi chất, acid amin và acid béo cần thiết. Nếu khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein trẻ sẽ chậm tăng cân, rồi giảm cân dẫn đến chậm phát triển chiều cao, trong trường hợp thiếu protein kéo dài thì trẻ sẽ bị thấp còi [123].

UNICEF đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một trong bốn biện pháp bảo vệ sức khỏe trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ. Trong thời gian 6 tháng đầu sau sinh, sữa mẹ là nguồn cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ, có tỷ lệ các chất dinh dưỡng cân đối và dễ hấp. thu, đặc biệt là protein và vitamin A. Thêm vào đó, sữa mẹ được xem là yếu tố khởi đầu, phát triển thành phần vi khuẩn chí đường ruột [62].

Tình trạng Tăng trưởng Tăng trưởng dinh dưỡng phát triển của và phát triển Biểu bà mẹ trẻ sơ sinh của trẻ nhỏ hiện Nguyên Khẩu phần ăn Các bệnh nhiễm trùng nhân trực tiếp An ninh thực Thực hành Hệ thống chăm sóc Nguyên phẩm hộ gia chăm sóc bà sức khỏe và vệ sinh nhân đình mẹ trẻ em môi trường quan trọng Yếu tố văn hóa và tín ngưỡng Tình độ học vấn và nguồn nhân lực Các nguyên tắc đạo đức Nguyên Khung luật pháp nhân cơ Tài nguyên thiên nhiên bản Ảnh hưởng môi trường Cơ sở hạ tầng Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mô hình nguyên nhân SDD Nguồn: Shrimptom & Kachondham, 2003 [107] Kiến thức, thái độ của bà mẹ về giá trị của sữa mẹ cũng làm ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ cho trẻ như: việc lo ngại cho con bú làm cho bộ ngực xấu đi và sữa non là không tốt, chỉ có sữa trưởng thành là sữa tốt cho sức khỏe, một số còn cho rằng sữa non là bẩn cần vứt bỏ đi. Một lý do khác ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ là do mẹ thiếu sữa, thiếu sữa khiến bà. mẹ phải cai sữa cho con trước 6 tháng tuổi, việc thiếu sữa xảy ra phổ biến ở các bà mẹ ở thành thị do căng thẳng công việc, do phải đi làm sớm, số lần cho trẻ bú ít đi là nguyên nhân gây thiếu sữa ở các bà mẹ [62]. Vòng xoắn giữa bệnh nhiễm trùng và SDD đã gây hậu quả tình trạng SDD càng nặng thêm.

Người ta ước đoán nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao của trẻ. Tỷ lệ SDD của trẻ tăng lên rõ rệt vào những mùa có các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng như: tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét [27]. Tiêu chảy làm cho trẻ mất nước và một số chất dinh dưỡng quan trọng như kẽm và đồng. Nếu không được bù nước và các chất dinh dưỡng này, trẻ có thể bị mất nước nghiêm trọng, SDD, chậm tăng trưởng và tử vong trong các trường hợp nguy hiểm.

Trong một nghiên cứu theo chiều dọc ở Philippine, trẻ em được theo dõi từ khi sinh ra cho đến 24 tháng tuổi, người ta thấy tác động tích lũy của nhiễm khuẩn đường hô hấp kèm theo sốt đến nguy cơ SDD thấp còi cũng tương tự như tác động của bệnh tiêu chảy. Có mối quan hệ “liều đáp ứng” giữa gánh nặng tiêu chảy tích lũy (ví dụ như số ngày bị tiêu chảy) và khả năng bị thấp còi lúc 24 tháng tuổi [25]. Các bệnh lý khác như dị tật bẩm sinh, tim tiên thiên, các bệnh của các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể cũng làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ và làm cho trẻ bị SDD. Nguyên nhân quan trọng Do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh môi trường.

Người ta thấy rằng tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn chặn đẩy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ [92]. Một tình trạng tiền lâm sàng có xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển là bệnh đường ruột do môi trường (EE - environmental enteropathy) hay còn gọi là bệnh đường ruột nhiệt đới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Tình Trạng Thấp Còi và Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em 6-24 Tháng Tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 24 tháng tại một trong những bệnh viện nhi hàng đầu. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ tỷ lệ trẻ em bị thấp còi mà còn phân tích các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng, từ đó đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm cải thiện sức khỏe cho trẻ em.

Đối với những ai quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng trẻ em, tài liệu này là một nguồn thông tin quý giá, giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết về tình trạng dinh dưỡng hiện tại. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em 6-24 tháng tuổi huyện đăk glong năm 2020 và một số yếu tố liên quan, hoặc Luận văn tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại 3 xã huyện tu mơ rông tỉnh kon tum năm 2022. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trong độ tuổi này.