CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình rắn cắn trên thế giới 1. Tình hình rắn cắn trên thế giới Rắn cắn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng bị lãng quên ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.4 triệu ca rắn cắn xảy ra mỗi năm, dẫn đến 1.7 triệu ca nhiễm độc (ngộ độc do rắn cắn).880 trường hợp tử vong và số ca cắt cụt chân và các thương tật vĩnh viễn khác gấp ba lần mỗi năm. Hầu hết những trường hợp này xảy ra ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh.
Ở Châu Á có tới 2 triệu người bị rắn cắn mỗi năm, trong khi ở Châu Phi ước tính có khoảng 435.000 vết cắn hàng năm cần được điều trị [87]. Nam Á là nơi có gánh nặng rắn cắn cao nhất thế giới và góp phần gây ra 70% tỷ lệ tử vong do rắn cắn toàn cầu [70]. Ấn Độ từ lâu được cho là nhiều vết cắn hơn bất kỳ quốc gia nào. Các báo cáo trước đây của bệnh viện ước tính có khoảng 1.000 ca tử vong hàng năm do rắn cắn mỗi năm ở Ấn Độ.
Theo nghiên cứu của Bijayeeni Mohapatra và cộng sự (2011), ước tính trực tiếp từ cuộc khảo sát tỷ lệ tử vong trên toàn quốc với 1,1 triệu hộ gia đình từ 2001 - 2003, tổng số 562 trường hợp tử vong (0,47%) được cho là do rắn cắn. Tỷ lệ này đại diện cho khoảng 45.900 ca tử vong do rắn cắn hàng năm trên toàn quốc hoặc tỷ lệ là 4,1/100. Số ca tử vong do rắn cắn cao nhất ở các bang Ultar Pradesh (8. Vì vậy rắn cắn là nguyên nhân gây tử vong do tai nạn vị đánh giá thấp ở Ấn Độ hiện đại, cứ 2 trường hợp tử vong liên quan đến HIV thì khoảng 1 trường hợp tử vong [67].
Theo Suraweera W, Warrell D, Whitaker R (2020) ước tính Ấn Độ có 1,2 triệu ca tử vong do rắn cắn (trung bình 58.000/năm) từ năm 2000 đến năm 2019, hơn ¼ ở trẻ em <15 tuổi, hầu hết xảy ra tại nhà ở khu vực nông thôn, nguy cơ 1 4 người Ấn Độ chết trước 70 tuổi là 1/250. Ước tính có 1,11 - 1,77 triệu vết cắn vào năm 2015 trong đó 70% triệu chứng nhiễm độc [79]. Theo nghiên cứu của Karoline Ceron và cộng sự báo cáo về rắn cắn xảy ra ở bang Mato Grossodo Sul (Brazil) từ năm 2007-2017, Brazil quốc gia Nam Mỹ có nhiều trường hợp bị rắn độc cắn nhất, tỷ lệ bị rắn cắn không đồng đều trên toàn quốc, có tổng cộng 5568 trường hợp bị rắn cắn, tần suất cao nhất từ tháng 10 đến tháng 4, phần lớn xảy ra ở nam giới, nguyên nhân chủ yếu do rắn rắn Bothrops gây ra, các thành phố có tỷ lệ nhiễm nọc rắn cao nhất trên 100.000 dân có mật độ dân số thấp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp [46]. Theo nghiên cứu của Schulte và cộng sự (2016), Hoa Kỳ từ năm 2000 đến 2013, có 18.721 trường hợp trẻ em bị rắn cắn (trung bình hàng năm 1337).
Một nửa số trường hợp bị rắn cắn được báo cáo là có độc (49%), rắn không có nọc độc (17%) và loại rắn không xác định (34%). Xảy ra 2/3 là nam giới (68%) với độ tuổi trung bình 10,7 tuổi. Tất cả 50 tiểu bang đều báo cáo có rắn cắn, nhưng ¼ xảy ra ở Texas và Florida. Tỷ lệ tổng số vết rắn cắn và rắn độc cắn cao nhất ở Tây Virginia, Okalahoma và Louisiana [74].
Tại Nepal, báo cáo của bệnh viện cho thấy có khoảng 20.000 bệnh nhân nhập viện và 1.000 người chết vì rắn cắn mỗi năm. Theo Gabriel Alcoba và cộng sự (2022) thu thập dữ liệu từ 30/11/2018- 07/05/2019 tại Nepal, trong số 63.454 người tham gia sống ở 13.879 hộ gia đình (249 thôn), 166 người bị rắn cắn trong 12 tháng trước đó, 48,8% bị nhiễm độc và 7,8% chết. Tỷ lệ mắc thô hàng năm về rắn cắn được báo cáo ở người 261,6/100.000 và tỷ lệ tử vong là 20,5/100. Phân loại rắn cắn trên thế giới Rắn phân bố rộng rãi ở nhiều vùng trên thế giới đặc biệt là vùng nhiệt đới và các khu cận nhiệt đới.
Người ta ước tính có khoảng 2500-3000 loài khác nhau trên thế giới. Trong đó có hơn 400 loại có nọc độc và có thể gây tử 5 vong cho người. Rắn có thể sống trên cạn và dưới nước (rắn biển). Rắn thuộc lớp Reptilia (bò sát) dưới bộ Squamata (rắn và thằn lằn) và phân bộ Serpentes (rắn).
Rắn được chia thành 14 hoặc 15 họ riêng biệt. Ở loài rắn độc, chúng chia thành 4 họ: Colubridae, Atractaspididae, Elapidae và Viperdae hoặc năm họ nếu Elapidae được tách thành 2 họ (họ Elapidae và họ Hydrophiidae). Atractaspididae là một họ nhỏ có nọc độc và chúng có răng nanh rất lớn ở phía trước của hàm trên nhưng ít răng. Chúng có thể tìm thấy ở Châu Phi và Trung Đông.
Colubriae là họ rắn lớn nhất còn sống hơn 1850 loài. Họ Elapidae, được tìm thấy trên toàn thế giới, bao gồm rắn hổ mang, rắn biển, rắn san hô. Những chiếc răng nọc độc của họ này được cố định ở phía trước của hàm trên. Họ Viperidae cũng được tìm thấy trên khắp thế giới ngoại trừ Madagascar và Úc.
Những chiếc nanh nọc độc của họ Viperidae dài và có thể gấp lại được. Tình hình rắn ở Việt Nam 1. Tình hình bệnh nhân bị rắn cắn ở Việt Nam Hơn 210 loài rắn đã được ghi nhận ở Việt Nam bao gồm 72 chi, được chia thành 8 họ. Tùy thuộc vào các hệ thống phân loại được sử dụng mà số lượng loài rắn độc được sử dụng, tổng cộng có tới 60 loài rắn độc đã được ghi nhận, bao gồm 37 loài (15 chi) thuộc họ Elapidae và 23 loài (9 chi) thuộc họ Viperidae [81].
Năm 2017, có tổng cộng 520 bệnh nhân bị rắn cắn nhập viện tại hai trung tâm điều trị rắn cắn ở TP. Cần Thơ là Bệnh viện Quân y 121 và Bệnh viện Nhi Đồng. Với tổng số dân là 1.800 người, tỷ lệ bị rắn cắn ở TP. Cần Thơ được tính là 21 vết cắn/100.000 người mỗi năm [80].
Phân loại * Phân loại rắn 6 - Theo WHO: đã phân loại rắn cực độc thành hai nhóm dựa trên mức độ ý nghĩa y tế để hướng dẫn sản xuất chất kháng nọc độc: + Loại 1: có tầm quan trọng y tế cao nhất là những loài rắn thường gây ra vết cắn với mức độ mắc bệnh, tàn tật và tử vong cao + Loại 2: có tầm quan trọng y tế thứ yếu là những loài rắn có khả năng gây bệnh tật, tàn tật hoặc tử vong, nhưng ít phổ biến hơn hoặc thiếu dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng chính xác [50]. - Tại Việt Nam Rắn độc thường có 2 loại + Nhóm gây rối loạn đông máu: rắn chàm quạp (Calloselasma rhodostoma hoặc Malayan pit viper) sống nhiều ở vùng cao su miền Đông Nam Bộ. Ngoài rắn chàm quạp, rắn lục tre (Trimeresurus albolaris), rắn lục xanh (Trimeresurus stejnegeri) [3]. Họ rắn lục có móc độc tương đối dài nằm dẹp theo hàm trên nhưng khi tấn công, móc độc sẽ dựng đứng.
Nọc độc của rắn lục thường gây sưng nề quanh vị trí cắn lan rộng và rối loạn đông máu toàn thân nguy hiểm. + Nhóm gây liệt, suy hô hấp: rắn hổ (hổ đất Naja kaouthia), hổ chúa (Ophiophagus hannanh), hổ mèo, cạp nong (Bungarus fasciatus), rắn cạp nia (Bungarus candidus), rắn biển [3]. Họ rắn hổ có móc độc tương đối ngắn, cố định nằm phía trước. Nọc độc của rắn hổ thường gây liệt, một số loài có thể gây hoại tử tại chỗ [8].
- Rắn không độc: các loài trăn, rắn lửa, rắn nước ngọt [7]. Triệu chứng lâm sàng 1. Các triệu chứng sớm Rắn là loài săn mồi và ngoại trừ các trường hợp ngoại lệ (ví dụ rắn ăn trứng), chúng khuất phục con mồi bằng cách siết chặt, cắn và nhai hung hãn hoặc bằng cách sử dụng nọc độc. Cơ chế phân phối nọc độc khác nhau giữa các nhóm rắn chính [75].
Hơn 90% nọc rắn (tính bằng trọng lượng khô) là 7 protein. Mỗi nọc rắn chứa hơn một trăm protein khác nhau: men (enzyme) (80-90% ở nọc độc rắn lục và 25-70% ở nọc độc rắn Hổ), các chất độc polypeptide không có vai trò là men và các protein không độc như yếu tố tăng trưởng thần kinh [8]. Ngay sau khi bị rắn cắn nạn nhân có thể bị đau do móc độc xuyên qua da, có thể đau khu trú vùng bị cắn, cảm giác châm chích, đau nhức, đau nhói, sưng phù khu trú lan dần đến vùng gần của chi và cảm giác sưng đau căng cứng hạch lympho vùng và đường dẫn bạch huyết từ vị trí cắn đến hạch bạch huyết vùng (hạch bẹn khi cắn chân, hạch nách khi cắn tay). Tuy nhiên, các vết cắn của một số loài rắn hổ hầu như không đau và không sưng phù khu trú.
Nạn nhân có thể bị rắn cạp nong cắn trong lúc ngủ và không thể tỉnh dậy và không hề phát hiện thấy móc độc hay dấu sưng nề [8]. Biểu hiện lâm sàng khi bị rắn độc cắn * Triệu chứng tại chỗ - Dấu móc độc, sưng đau khu trú vùng bị cắn, bầm máu, xuất huyết, viêm hạch lympho, viêm: sưng, nóng, đỏ, đau, nhiễm trùng khu trú, abces, hoại tử [8]. Với rắn hổ mang bành, vết cắn hoại tử đen, khô, lan rộng rất nhanh, với hổ chúa, vết cắn hoại tử kèm phù nề lan rộng, rắn lục là hoại tử kết hợp với chảy máu, phồng rộp,. * Triệu chứng toàn thân - Toàn trạng: buồn nôn, nôn, khó chịu, đau bụng, yếu, chóng mặt.
- Tim mạch (họ rắn lục): nhìn mờ hoa mắt chóng mặt, mệt lả, xỉu, sốc, hạ huyết áp, rối loạn nhịp, phù phổi, phù kết mạc. - Chảy máu và rối loạn đông cầm máu: chảy sau chấn thương hay vết thương hay chảy máu từ dấu móc độc. Chảy máu toàn thân tự phát: chảy máu nướu răng, chảy máu cam, xuất huyết nội sọ, ho ra máu, xuất huyết tiêu hóa, 8 tiểu máu, rong kinh- rong huyết, chảy máu tử cung, sảy thai, chảy máu vào cân cơ, da (xuất huyết dưới da), chảy máu võng mạc [8]. + Các nghiên cứu đã khẳng định trong nọc rắn lục có độc tố gây chảy máu đó là men tiêu hủy protein (protease), trong đó metalloproteinase, sernoproteinase giữ vai trò chủ đạo.
Protease phá hủy nội mô thành mạch và thành mạch gây tăng tính thấm thành mạch, phá vỡ cân bằng quá trình đông máu và cầm máu bình thường trong cơ thể. Tổn thương nội mạc mạch máu tạo điều kiện cho tiểu cầu bám dính ngưng tập và hình thành các yếu tố như photpholipid khởi động cơ chế đông cầm máu trong huyết tương.