Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị botulinum nhóm A ở trẻ bại não thể co cứng

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh mri sọ não và hiệu quả điều trị độc tố botulinum nhóm, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

197
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Bại não và bại não thể co cứng

1.2. Đại cương về bại não

1.3. Phân loại bại não

1.4. Các yếu tố nguy cơ gây bại não thể co cứng

1.5. Cơ chế bệnh sinh bại não

1.6. Co cứng và dấu hiệu hội chứng tổn thương tế bào thần kinh vận động trên

1.7. Biểu hiện lâm sàng bại não thể co cứng

1.8. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ sọ não của trẻ bại não thể co cứng

1.9. Chẩn đoán bại não thể co cứng

1.10. Các phương pháp điều trị co cứng cơ cho trẻ bại não thể co cứng

1.11. Độc tố botulinum nhóm A

1.11.1. Cấu trúc độc tố botulinum

1.11.2. Cơ chế tác dụng của độc tố botulinum nhóm A

1.11.3. Cơ chế phục hồi dẫn truyền thần kinh sau tiêm botulinum nhóm A

1.11.4. Liều tiêm, tính an toàn của botulinum nhóm A

1.12. Hiệu quả của tiêm botulnium nhóm A kết hợp phục hồi chức năng trong điều trị cho trẻ bại não thể co cứng và các yếu tố ảnh hưởng

1.13. Các thang điểm đánh giá chức năng vận động cho trẻ bại não thể co cứng trong nghiên cứu

1.13.1. Đánh giá chức năng vận động thô theo thang điểm GMFCS

1.13.2. Đánh giá mức độ co cứng theo thang điểm Ashworth cải tiến

1.13.3. Đo tầm vận động thụ động khớp chi dưới bên liệt

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn trẻ. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.6. Mẫu nghiên cứu can thiệp có đối chứng

2.7. Nội dung và cách tiến hành nghiên cứu

2.8. Nội dung và phương pháp đánh giá các biến nghiên cứu

2.8.1. Đánh giá tổn thương não trên cộng hưởng từ thường và cộng hưởng từ sức căng khuếch tán bó tháp ở trẻ bại não thể co cứng

2.8.2. Đánh giá trương lực cơ

2.8.3. Đánh giá tầm vận động thụ động khớp

2.8.4. Đánh giá chức năng vận động thô theo thang điểm GMFCS

2.9. Kỹ thuật tiêm Độc tố botulinum nhóm A

2.9.1. Chuẩn bị thuốc và dụng cụ. Xác định điểm tiêm

2.9.2. Kỹ thuật tiêm

2.9.3. Bảo quản thuốc. Các biện pháp phục hồi chức năng kết hợp

2.10. Quy trình thu thập số liệu

2.11. Công cụ thu thập số liệu

2.12. Thử nghiệm bộ công cụ

2.13. Chuẩn bị cho thu thập số liệu. Tiến hành thu thập số liệu

2.14. Phương pháp xử lý số liệu

2.15. Sai số và cách hạn chế sai số trong nghiên cứu

2.15.1. Sai số nhớ lại

2.15.2. Biện pháp khắc phục sai số

2.16. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ sọ não của trẻ bại não thể co cứng

3.1.1. Đặc điểm lâm sàng bại não thể co cứng

3.1.2. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ sọ não ở trẻ bại não thể co cứng

3.2. Hiệu quả điều trị tiêm botulinum nhóm A kết hợp với phục hồi chức năng với tập phục hồi chức năng cho trẻ bại não thể co cứng

3.2.1. Đặc điểm chung của hai nhóm tại thời điểm bắt đầu điều trị

3.2.2. Hiệu quả của tiêm tiêm botulinum nhóm A kết hợp với tập phục hồi chức năng lên trương lực cơ theo thang điểm MAS

3.2.3. Hiệu quả điều trị lên tầm vận động thụ động của khớp

3.2.4. Cải thiện mức độ chức năng vận động thô GMFCS sau điều trị

3.2.5. Một số tác dụng không mong muốn sau khi tiêm botulinum nhóm A (Dysport®) trong điều trị cho trẻ bại não thể co cứng

3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị tiêm Độc tố botulinum nhóm A kết hợp phục hồi chức năng ở trẻ bại não thể co cứng

3.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị thuộc bản thân trẻ

3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng thuộc bố mẹ và gia đình đến kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ sọ não của trẻ bại não thể co cứng

4.1.1. Đặc điểm phân bố tuổi, giới

4.1.2. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ gây bại não thể co cứng

4.1.3. Đặc điểm chức năng vận động ở bại não thể co cứng

4.1.4. Rối loạn chức năng các giác quan và dị tật kèm theo

4.1.5. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ sọ não của trẻ bại não thể co cứng

4.2. Bàn luận về hiệu quả điều trị kết hợp Độc tố botulinum nhóm A và phục hồi chức năng ở trẻ bại não thể co cứng

4.2.1. Đặc điểm chung của trẻ tham gia nghiên cứu can thiệp

4.2.2. Sự thay đổi độ co cứng nhóm cơ gấp gối sau điều trị

4.2.3. Thay đổi độ co cứng nhóm cơ gấp cổ chân sau điều trị

4.2.4. Thay đổi tầm vận động thụ động của khớp gối

4.2.5. Thay đổi tầm vận động thụ động khớp cổ chân

4.2.6. Hiệu quả điều trị lên chức năng vận động thô

4.2.7. Tác dụng không mong muốn sau tiêm botulinum nhóm A (Dysport®) trong điều trị cho trẻ bại não thể co cứng

4.2.8. Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị độc tố botulinum nhóm A kết hợp phục hồi chức năng cho trẻ bại não thể co cứng

4.2.8.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị thuộc về con
4.2.8.2. Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về bố mẹ và gia đình của trẻ đến hiệu quả điều trị

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CỦA ĐỀ TÀI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bại não

Bại não là một thuật ngữ mô tả các rối loạn vĩnh viễn về phát triển vận động và tư thế, gây ra bởi tổn thương não trong giai đoạn phát triển. Tỷ lệ mắc bại não dao động từ 2 - 2,5/1000 trẻ sinh sống, với bại não thể co cứng chiếm 72 - 80% trong số đó. Hậu quả của co cứng cơ không chỉ ảnh hưởng đến tư thế mà còn cản trở khả năng hòa nhập xã hội của trẻ. Việc điều trị cho trẻ bại não cần phải kết hợp nhiều phương pháp, trong đó có tiêm botulinum nhóm A để giảm co cứng cơ và cải thiện chức năng vận động. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong việc phục hồi chức năng cho trẻ bại não thể co cứng.

1.1. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ

Trẻ bại não thể co cứng thường có các biểu hiện lâm sàng rõ rệt như tăng trương lực cơ và các phản xạ bệnh lý. Hình ảnh cộng hưởng từ cho thấy tổn thương chất trắng quanh não thất là phổ biến. Việc chẩn đoán chính xác thông qua hình ảnh cộng hưởng từ giúp xác định mức độ tổn thương và tiên lượng điều trị. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc tiêm botulinum nhóm A có thể làm giảm co cứng cơ và cải thiện chức năng vận động trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp này.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm trẻ bại não thể co cứng, với tiêu chuẩn chọn lựa rõ ràng. Thiết kế nghiên cứu bao gồm cả phương pháp can thiệp và đối chứng, nhằm đánh giá hiệu quả của tiêm botulinum nhóm A kết hợp với phục hồi chức năng. Các biến nghiên cứu được đánh giá thông qua các thang điểm chức năng vận động như GMFCS và Ashworth. Quy trình thu thập số liệu được thực hiện một cách chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

2.1. Đối tượng và tiêu chuẩn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm trẻ bại não thể co cứng từ 2 đến 12 tuổi. Tiêu chuẩn chọn lựa bao gồm trẻ có chẩn đoán bại não thể co cứng xác định và không có các bệnh lý đi kèm nghiêm trọng. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm trẻ có tiền sử dị ứng với botulinum nhóm A hoặc các rối loạn thần kinh khác. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy tiêm botulinum nhóm A kết hợp với phục hồi chức năng có hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện trương lực cơ và chức năng vận động của trẻ bại não thể co cứng. Các thang điểm đánh giá cho thấy sự cải thiện đáng kể sau điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng không mong muốn cũng đã được ghi nhận, cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị cũng được phân tích, bao gồm độ tuổi, giới tính và mức độ tổn thương não.

3.1. Hiệu quả điều trị

Tiêm botulinum nhóm A đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm co cứng cơ và cải thiện chức năng vận động thô. Kết quả từ các thang điểm GMFCS cho thấy sự tiến bộ rõ rệt ở nhóm trẻ được điều trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả này có thể không kéo dài và cần có các liệu pháp bổ sung để duy trì kết quả. Việc theo dõi và đánh giá định kỳ là cần thiết để đảm bảo trẻ nhận được sự chăm sóc tốt nhất.

IV. Bàn luận

Bàn luận về hiệu quả của tiêm botulinum nhóm A cho thấy đây là một phương pháp hứa hẹn trong điều trị bại não thể co cứng. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Việc kết hợp giữa tiêm botulinum nhóm A và phục hồi chức năng có thể mang lại lợi ích lớn cho trẻ bại não, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng hòa nhập xã hội.

4.1. Tác dụng không mong muốn

Một số tác dụng không mong muốn đã được ghi nhận sau khi tiêm botulinum nhóm A, bao gồm yếu cơ tạm thời và phản ứng tại chỗ. Những tác dụng này cần được theo dõi và quản lý để đảm bảo an toàn cho trẻ. Việc giáo dục gia đình về các tác dụng phụ có thể xảy ra cũng rất quan trọng trong quá trình điều trị.

25/01/2025
Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh mri sọ não và hiệu quả điều trị độc tố botulinum nhóm a kết hợp phục hồi chức năng ở trẻ bại não thể co cứng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Bại não và bại não thể co cứng 1. Đại cương về bại não Năm 1886, William Little lần đầu tiên mô tả một tình trạng rối loạn vận động có tên là bệnh Little, hậu quả gây ra co cứng các cơ chi dưới của những trẻ bị bệnh [1],[14]. Bệnh Little ngày nay được biết đến là thể bại não liệt co cứng [15].

Trên thế giới, tỷ lệ bại não khoảng 2 - 2,5/1.000 trẻ sinh sống [2],[16].000 ca mắc mới mỗi năm [17]. Bại não có xu hướng tăng dần do ngày càng nhiều trẻ sơ sinh non tháng, cân nặng rất thấp và ngạt nặng lúc sinh được cứu sống [18]. Ở Việt Nam có khoảng 500.000 trẻ em bại não [4]. Bại não thực sự đang là một gánh nặng về tâm lý, kinh tế của gia đình và xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới [10].

Tỷ lệ bại não thể co cứng chiếm 72 - 80 % trong các rối loạn vận động của trẻ bại não [5]. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà (2002) tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy tỷ lệ bại não thể co cứng chiếm 62,6% (144/230) [19]; Nguyễn Thị Minh Thuỷ (2004), tỷ lệ bại não thể co cứng chiếm 84% [20]. Hậu quả co cứng cơ ảnh hưởng tới tư thế và dáng đi, gây cản trở hoạt động và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ. Do đó, phục hồi chức năng, đặc biệt điều trị co cứng cơ sớm cho trẻ bại não là hết sức cần thiết.

Phân loại bại não Bại não không phải là chẩn đoán nguyên nhân mà là một thuật ngữ mô tả lâm sàng dựa trên hiện tượng học. Thể bại não và mức độ nặng của vận động phụ thuộc vào vị trí và mức độ tổn thương của hệ thần kinh trung ương, trong đó co cứng cơ liên quan đến tổn thương bó vỏ - tuỷ hay bó tháp, thường là chất trắng hoặc tổn thương kết hợp chất xám vỏ não và chất trắng; loạn trương lực cơ liên quan đến tổn thương các nhân xám và đồi thị [1],[21]. Các khiếm khuyết kèm theo (ví dụ động kinh, khiếm khuyết về khả năng giao tiếp và chậm phát triển trí tuệ) liên quan tới mức độ tổn thương chất trắng và /hoặc 4 chất xám. Trẻ bại não có nhiều các khiếm khuyết kèm theo thường có xu hướng tập trung những ở những thể nặng [21],[22].

Các phân loại truyền thống tập trung vào phần cơ thể bị ảnh hưởng và được mô tả theo phần trương lực cơ hoặc bất thường vận động chiếm ưu thế. "Phân loại bại não của Thụy Điển" ban đầu được báo cáo bởi Hagberg và các đồng nghiệp (1975) [23], ba loại vận động bất thường được xác định là co cứng (được chia tiếp thành thể liệt nửa người, liệt hai chi dưới và thể thể liệt tứ chi), thể thất điều (được chia thành thể liệt hai chi và bẩm sinh), thể loạn động (được chia thành thể múa vờn và thể loạn trương lực). Trong đó, bại não thể co cứng là phổ biến nhất. Liệt nửa người đề cập đến liệt một bên (phải hoặc trái), các cơ chi trên bị ảnh hưởng nặng hơn chi dưới hoặc cân bằng nhau.

Đôi khi thuật ngữ “liệt một chi” và “liệt ba chi” cũng được sử dụng [16]. Theo điều tra về bại não Châu Âu cải tiến năm 2000 (SCPE: surveillance of cerebral palsy in Europe) [24] phân loại bại não dựa vào ba loại bất thường vận động ở trên nhưng thêm“thể không xác định” cho những trường hợp không xác định được thể co cứng, hay thể thất điều hay thể loạn động là thể chiếm ưu thế. Cách phân loại bại não theo biểu hiện “một bên” và “hai bên” cũng được thông qua. Ngoài ra, một số tác giả xác định thể nhẽo (đề cập đến trường hợp trương lực cơ giảm bất thường) và thể kết hợp (thường kết hợp giữa thể co cứng và thể múa vờn) [25].

• Phân loại bại não theo loại rối loạn vận động [1],[24]: (a) Bại não thể co cứng; (b) Bại não thể múa vờn; (c) Bại não thể thất điều và (d) Bại não thể phối hợp. Bại não thể co cứng (spastic cerebral palsy) Chiếm khoảng 72 - 80% trẻ bại não, có ít nhất hai trong các đặc điểm sau: - Tăng trương lực cơ - Phản xạ bệnh lý (tăng phản xạ gân xương và/hoặc Babinski dương tính) - Vận động bất thường 5 Bại não thể co cứng chia tiếp thành các thể dựa vào phần chi thể bị ảnh hưởng (định khu): - Liệt co cứng hai chi dưới (spastic diplegia): trẻ có bất thường co cứng rõ ở hai chi dưới. Do các cơ khép co cứng nên chân trẻ luôn bị kéo vào trong làm cho trẻ có dáng đi bắt chéo hai chân rất đặc trưng. - Liệt co cứng nửa người (spastic hemiplegia): thường có biểu hiện liệt co cứng một bên (phải hoặc trái).

Thường thì chi trên bị ảnh hưởng nặng hơn chi dưới. - Liệt co cứng tứ chi (spastic quadriplegia): trẻ thuộc nhóm này có biểu hiện liệt co cứng cả hai chi trên và hai chi dưới cùng với các cơ trục thân. Cả các cơ ở mặt cũng bị ảnh hưởng làm cho trẻ bị tàn phế rất nặng. Bại não thể múa vờn (athetoid hay dyskinetic cerebral palsy) Có khoảng 10 - 20% trẻ bại não thuộc vào nhóm này, có đặc điểm: - Thường do tổn thương các nhân vùng nền não, gây ra các động tác bất thường không chủ động của tay, các ngón tay, chân, có thể cả thân mình.

- Trương lực cơ luôn thay đổi: người trẻ lúc gồng cứng, lúc mềm, lúc bình thường. Bại não thể thất điều (ataxic cerebral palsy) - Khoảng 5 đến 10% trẻ bại não thuộc thể lâm sàng này. - Trẻ mất điều hòa vận động làm dáng đi bất thường, khó thực hiện các động tác phức tạp cần có sự phối hợp nhiều nhóm cơ. Bại não thể phối hợp (Mixed cerebral palsy) Trẻ có thể thường gặp phối hợp thể co cứng với thể múa vờn, những trường hợp này thường bị tàn tật nặng nề.

• Phân loại bại não theo đề xuất Rosenbaum và cộng sự, 2006 [26]: Phân loại được đề xuất tại Hội thảo Quốc tế về “Định nghĩa và Phân loại Bại não” (Rosenbaum và cộng sự, 2006) [26]. Phân loại này bao trùm các biểu hiện lâm sàng và hạn chế chức năng vận động. Các thành phần phân loại bại não được dựa trên các nội dung dưới đây: 6 (i) Bất thường về vận động a. Bản chất và dạng rối loạn vận động: bất thường trương lực (ví dụ: tăng trương lực hoặc giảm trương lực) và rối loạn vận động (ví dụ: co cứng, thất điều, múa vờn, loạn trương lực).

Khuyến cáo các trường hợp tiếp tục được phân loại theo loại bất thường về trương lực hoặc bất thường vận động chiếm ưu thế. Bất thường chức năng vận động: dựa vào phạm vi của các hạn chế chức năng vận động, bao gồm cả chi trên, chi dưới và chức năng vận động lời nói. - Hệ thống phân loại chức năng vận động thô (Gross Motor Function Classification System - GMFCS). - Hệ thống phân loại năng lực bằn tay (Manual Ability Classfication System - MACS).

- Các đặc điểm hình ảnh thần kinh: các đặc điểm giải phẫu thần kinh trên chụp cắt lớp vi tính hoặc hình ảnh cộng hưởng từ sọ não (ví dụ: giãn não thất, mất chất hoặc bất thường não). (iv) Nguyên nhân và thời gian tổn thương não Dựa trên dữ liệu có thể xác định nguyên nhân rõ ràng ví dụ như: viêm màng não, chấn thương sọ não hoặc dị tật não nếu biết khoảng thời gian xảy ra chấn thương. 7 Tóm lại có rất nhiều cách phân loại bại não khác nhau. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung trên đối tượng trẻ bại não thể co cứng.

Do đó, chúng tôi phân loại bại não theo định khu, chức năng vận động thô (GMFCS) và các đặc điểm hình ảnh tổn thương não trên CHT. Các yếu tố nguy cơ gây bại não thể co cứng Bại não là một tình trạng với nhiều yếu tố nguyên nhân và không thể xác định được bất kỳ yếu tố nguy cơ đơn độc ở một trường hợp trẻ bại não. Có nhiều yếu tố nguyên nhân gây tổn thương tới quá trình phát triển của não, xảy ra vào giai đoạn trước sinh (38%), trong khi sinh (35%) và sau khi sinh (27%). Ở trẻ non tháng, tổn thương não thời kỳ trước sinh ít hơn (17%) và xảy ra nhiều hơn vào giai đoạn trong khi sinh (49%) hoặc không xác định được thời điểm tổn thương (33%) [14],[27].

Các yếu tố nguy cơ trước khi sinh: Bệnh của mẹ: bị sảy thai trước đó, đa thai [28]. Ngộ độc thai nghén, tiếp xúc hoá chất, nhiễm virus trong 3 tháng đầu mang thai [29]. Chấn thương, dùng thuốc khi mang thai, chảy máu rau thai, bị bệnh tuyến giáp [30]. Bệnh của con: thai nhi bị rối loạn nhiễm sắc thể, dị tật não, vòng rau cuốn cổ, tư thế thai bất thường [30].

Các yếu tố nguy cơ trong khi sinh: Đẻ non (dưới 37 tuần) và cân nặng khi sinh thấp (dưới 2,500 gam) là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây bại não. Tỷ lệ bại não cao nhất ở nhóm trẻ sơ sinh rất non tháng (28 - 32 tuần) và đặc biệt non tháng (< 28 tuần) [31],[32]. Tỷ lệ bại não ở trẻ sơ sinh non tháng và cân nặng sơ sinh thấp thay đổi từ 40 đến 150/1.000 trẻ sinh sống, đặc biệt tỷ lệ bại não lên tới 1/10 trẻ sinh sống non tháng dưới 32 tuần, trong khi tỷ lệ bại não sấp xỉ 1/1.000 trẻ sinh sống đủ tháng [33]. Ngạt hoặc thiếu oxy lúc sinh: trẻ sinh ra không khóc ngay, tím tái hoặc trắng bệch phải cấp cứu.

Ngạt nặng ở trẻ đủ tháng không phải là yếu tố 8 nguyên nhân chính gây bại não, trái lại với trẻ non tháng kết hợp với tình trạng ngạt thiếu oxy tỷ lệ bại não lên tới một nửa các trường hợp [34],[35]. Các can thiệp sản khoa: dùng kẹp thai, hút thai, đẻ chỉ huy hậu quả gây tổn thương não. Các yếu tố nguy cơ sau khi sinh: Chảy máu não - màng não sơ sinh. Nhiễm khuẩn thần kinh như: viêm não, viêm màng não [36].

Chấn thương sọ não do ngã, tai nạn, đánh đập. Thiếu oxy não do suy hô hấp nặng phải thở oxy, thở máy cũng là yếu tố nguyên nhân gây bại não [37]. Các tổn thương khác: vàng da nhân sơ sinh, co giật do sốt cao đơn thuần, do gien [38],[39]. • Các yếu tố nguy cơ gây bại não theo định khu lâm sàng Liệt co cứng nửa người: 70 - 90% do các yếu tố trước và trong khi sinh, khoảng 10 - 30% là mắc phải sau khi sinh.

Những tổn thương mạch não, các bất thường cấu trúc não (thiểu sản bán cầu não, khuyết não). Ở trẻ sơ sinh non tháng, 20,4% có thể là hậu quả của nhuyễn chất trắng quanh não thất không cân đối [40].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị botulinum nhóm A ở trẻ bại não thể co cứng" tập trung vào việc nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng của trẻ bại não và hiệu quả của phương pháp điều trị bằng botulinum nhóm A. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe của trẻ bại não mà còn đánh giá hiệu quả của liệu pháp điều trị, từ đó giúp các bác sĩ và phụ huynh có thêm thông tin để đưa ra quyết định điều trị tốt nhất cho trẻ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, nơi nghiên cứu về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực tâm thần học, hay Nghiên cứu lâm sàng viêm thận lupus ở trẻ em và mô bệnh học, cung cấp thông tin về các bệnh lý khác ở trẻ em. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến trẻ em và các phương pháp điều trị hiện có.