Đặt vấn đề Hom ba thập niên đã trôi qua kể từ khi căn bệnh HIV/AIDS được phác hiện (năm 1981). Cho đến ngày nay, mặc dù thé giới đã đạt được những tiến bộ. nhất định trong việc phòng chống HIV/AIDS, nhưng vẫn có tới khoảng trên 50% số người trên thế giới ngày nay đang sống chung với HIV/AIDS là phụ nữ và trẻ em. HIV/AIDS là đại địch mang tính chất toàn cầu, mặc dù nó mới chỉ được phat hiện từ đầu thập kỷ 80 thé kỷ XX.
Theo thắng kê của UNAIDS và WHO vào năm 2006, thé giới có 39,5 triệu người đang chung sống với HIV/AIDSTM, Cho đến nay, sau nhiều thập kỷ nỗ lục của các nhà khoa học, vẫn chưa có loại thuốc nào tiêu điệt được tận gốc loại virus HIV được tim ra. Bởi vay, phòng ngừa và bạn chế sự lây lan của HIV vẫn là biện pháp đối pho cơ bản. với đại dich. Trong suốt thập kj 80 và những năm đầu của thập kỷ 90 của thế ky XX, sự ky thị, phân biệt đối xử với những người chung sống với HIV/AIDS, va thậm.
chí với cả những người thần của họ, diễn ra khá phổ biến trên thé giới. Cách ly người sống chung với HIV/AIDS ra khỏi cộng đồng (bằng cách loại trừ họ khỏi nhiều hoạt động xã hội và nghề nghiệp) được coi là một trong những * biện. pháp hiệu quả” để ngăn ngừa sự lây lan của đại dịch. Ở một số nơi trên thế giới thậm chí đã từng diễn ra những hành động cực đoan như giết, đốt xác những.
người sống chung với HIV/AIDS và tẩy chay những người thân của họ”. `3 UNADIS/WHO - AIDS Epidemic Update, December 3006 p2 5 fpwipe. oe wi IVA HIV/AIDS - Hội chứng suy giảm miễn địch mắc phải, là mộthỏi chứng của nhiều bênh nhiễm trùng ví dụ: Íao, viêm phổi, nấm), mà người nhiễm HIV gặp phải do bê miễn dịch của co thể bị tổn thương hoặc bị phá hủy. AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV.
Tuy nhiên, mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tùy theo loại bệnh nhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc phải, và khả năng chống đỡ của hệ miễn. dich mỗi người. HIV/AIDS được xem như là đại dịch kể từ khi nó được phát hiện ra Nếu như trước đây, phần lớn người có HIV là nam giới thì nay tương, quan này đã cân bằng, Thậm chí ở các khu vực của châu Phi, phụ nữ chiếm đến.3⁄4 số người có HIV ở độ tuổi 15-24. ién thức về HIV/AIDS của phụ nữ cũng, hon đàn ông.
Cùng một hành vi nguy cơ cao nhưng phụ nữ dé nhiễm HIV gấp. 2-4 lần so với nam giới. Và khi có bệnh, họ cũng bị kỳ thị, hat hii nhiều hon đàn ông. Tại Việt Nam, nam giới vẫn chiếm phần đông trong số người nhiễm.
virus gây bệnh AIDS, nhưng tỷ lệ thai phụ có HIV gần đây có xu hướng tăng, nhanh, khiến nguy cơ bệnh lan ra cộng đồng ngày càng trở nên nghiêm trọng” Ở nước ta, phụ nữ và trẻ em không chỉ là những đối tượng giành được nhiều sự quan tâm của xã hội mà trong pháp luật, họ còn là những chủ thể đặc biệt của nhóm chủ thể đễ bị thương, Chính vi , họ luôn nhận được sự ưu tiên, sự bảo vệ và sự nhân đạo của luật pháp; không chỉ trong pháp luật về hôn nhân gia đình mà cồn trong toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung. TI — Quyền bình đẳng không bj phân biệt đối xử của phụ nữ và trẻ. em có HIV/AIDS * Déi với trẻ em: Quyền trẻ em đã được nhân loại thừa nhận và quy định trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức và hành động của người khác.
26 nên việc bảo vệ quyền trẻ em là rất cần thiết. Bảo vệ quyền trẻ em chính là bảo. vệ những quyền mà trẻ em được hưởng và bảo đảm cho trẻ em được thực biện. Quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người, là “quyén con người của chủ thé đặc biệt” là trẻ em.
Những quyền này được Nhà nước. thừa nhận và đảm bảo bằng pháp luật. Dưới góc độ pháp lý, quyền trẻ em được xem xét từ gốc độ khách quan và chủ quan như sau: + Quyền trẻ em theo nghĩa khách quan được Ta tắt cả các quyền lợi được hưởng của cá nhân trẻ em, những quyền này có ở trẻ em ngay từ khi sink ra, tồn tại khách quan và được Nhà nước công nhận, ghi nhận thành các quyền và nghĩa vụ cơ bản của trẻ em và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật. Nội dung quyền trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như điểu kiện kinh tế xã hội, chế độ chính trị , phong tục tập quán, tư tưởng đạo đức của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Trong xu thé hiện nay, quyền trẻ em ngày cảng được. mở rộng và phát triển, trẻ em từ đối tượng được hưởng quyền thành chủ thể có quyền. Quyền trẻ em được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật quốc tế cũng như pháp [uật quốc gia. Quyền trẻ em đã được quy định cụ thé trong Công ước QTE và yêu cầu : * Các thành viên phải tôn trong và bảo dim các quyên được nêu ra trong Cong ước này đối vời mỗi trẻ em thuộc quyén tài phản của họ mà không có một sự phân biệt đối xử nào, bat kẻ trẻ em, cha mẹ hay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc ching tộc, mầm da, g itinh, ngôn ngữ, tôn giáo, chính gi khác, nguồn gắc quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản , khuyết tật, xuất thân gia đình và những mối tương quan khác " Công ước QTE được chia làm bốn nhóm quyển cơ bản: Nhóm quyển sống còn, nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển, nhóm quyền tham gia.
Luật BVCS&GDTE ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em từ Điều 11 đến Điều 22, trong đó có quyên được tôn trọng bảo vệ tinh mạng, thân th, nhân phẩm và + danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe. "Nhà nước dim bảo thực hiện bằng việc quy di trách nhiệm của các cá nhân, z cơ quan, tô chức có nghĩa vụ. Với việc quy định nảy, quyền trẻ em vẫn được. bảo đảm thực hiện trong một số trường hợp mà trẻ em không thể thực hiện được quyền của mình bằng chính hành vi của minh.
Quyền trẻ em chỉ được bảo đảm thực hiện khi được pháp luật ghi nhận , việc ghi nhận quyền trẻ em chỉ có ý nghĩa khi những quyền nay được thực thi trong thực tế. Do đó, song song với việc ghỉ nhận các quyển của trẻ em, pháp. luật cần có các biện pháp bảo dim để các quyền này trở thành hiện thực. Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em định nghĩa: báo vệ quyển trẻ em là xây dựng hệ thông và cơ chế hoạt động hiệu quá để phòng ngừa, can thiệp và giải quyết tình trạng xâm hại, xao nhang, bóc lột và bạo lực đối với trẻ em.
Nhu vậy, có thé hiểu bảo vệ quyền trẻ em là hệ thống các biện pháp, ede cơ chế, cách thức hoạt đậng được pháp luật quy định nhầm đảm bảo có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, xao. nhãng, xâm hai, bóc lột hoặc bạo lực nhằm đảm hảo thực hiện quyên cơ ban của trẻ em trong rhực tế. 'Việt Nam là quốc gia sớm phê chuẩn Công ước QTE và đó là cơ sở pháp. lý của việc quy định về quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, cũng như bao vệ quyển trẻ em trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hiển pháp năm 1992 khẳng định: “ Nhd nước, xã hội, gia đồnh và công. dân có trách nhiệm bảo vé, chăm sỏe bà me và trẻ em. "”, Hiến pháp quy định: " Tré em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo quaxŠ Bao vệ trẻ em là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ. Việt Nam: “ Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và ở Luật BVCS&GDTE quy định: “ Việc Báo về, chăm sóc và giáo đục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội tả công dân ` Điều Hiển pháp 40 năm 1992 ˆ* Điều 6S Hit pháp hâm 1992 28 Trong mọi hoạt động của cơ quan t6 chức, gia đình, cé nhâm có liên quan đến trẻ em thi lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.
*” “Trẻ em, không phân biệt gdi, trai, con trong gid thú, con ngoài giá thú, con dé, ‘con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tin ngưỡng, tôn giáo, thành phân, địa vị xã hội, chúnh diễn của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bào vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyển theo quy định của pháp luật Việc bảo vệ như thé nào cho có hiệu quả, đảm bảo quyển của trẻ em lá trách nhiệm cúa mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Việc bảo về quyền trẻ em. chính là việc quy định cụ thể quyển và nghĩa vụ của các cha mẹ, ống bà, anh, chi, họ hang thân thích và toàn xã hội; là những biện pháp trừng phạt những vi pham đến quyền trẻ em. * Đối với phụ mí Phy nữ là nhóm đông nhất trong các nhóm xã hội dé bị tổn thương nên vấn để quyển cúa phụ nữ thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng.
đồng quốc tế. Một số nhóm người được coi là dễ bị tốn thương trong luật quốc. tế về quyền con người bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống. chung với HIV, người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao động di trú, người thiểu số, nạn nhân chiến tranh, người cao tuổi.
Nim trong “dòng chảy” của sự phát triển xã hội thi nhóm những người này có thể được tăng lên đo hoàn cảnh và bối cảnh lịch sử mang lại. ‘Nam nữ bình đẳng 1a một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt ‘Nam, được Đảng ta dé ra từ năm 1930 và được luật hóa Sắc lệnh số 97/SL ngày. “Đàn ba lấy chẳng có toàn năng về mặt ho” tức là có đầy đủ năng. Tực bành vi dân sự và bình đẳng với người chồng trong moi lĩnh vực.
Từ đó đến nay, nguyên tắc này đã được hoàn thiện dan trong hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước.