ĐẶT VẤN ĐỀ Học sinh tiểu học là đối tượng đặc biệt cần được quan tâm đầy đủ, toàn diện về dinh dưỡng và sức khỏe. Đây là lứa tuổi chuyển tiếp, phát triển nhanh cả về trí tuệ và thể lực. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý ở lứa tuổi này có thể dẫn đến suy dinh dưỡng hoặc thừa cân, béo phì. Sự phát triển chiều cao và thể lực sẽ bị hạn chế nếu trẻ bị suy dinh dưỡng, ngược lại khi bị thừa cân, béo phì, trẻ sẽ có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây sau này ở tuổi trưởng thành như: tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường, viêm xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm mỡ và một số bệnh ung thư dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống và giảm tuổi thọ, tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội [35].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Thị Thùy Dương, Trần Thị Hồng Vân và Cộng sự (2017) trên 1697 học sinh hai trường tiểu học thành phố Thái Nguyên cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng chung là 19,8%, trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm 8,2%, thể thấp còi là 4,9% và thể gày còm là 6,6% [12]. Bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao thì tỷ lệ thừa cân, béo phì ở lứa tuổi này có xu hướng gia tăng. Kết quả nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Công Danh và Phạm Văn Phú (2020) cho thấy: Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ khá cao lần lượt là 22,2% và 25,9% [7]. Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi học đường nói chung và học sinh tiểu học nói riêng còn hạn chế.
Trong khi số liệu về tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi tiểu học được thu thập trong các cuộc tổng điều tra với khoảng thời gian 10 năm một lần, do đó chưa đảm bảo tính cập nhật về tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi này. Việc phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì ở học sinh lứa tuổi này để đưa ra biện pháp can thiệp kịp thời là hết sức cần thiết. 2 Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học ở nơi đây còn rất ít. Vậy thực trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học ra sao và yếu tố nào liên quan mật thiết đến tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi này? Chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thực trạng dinh dưỡng của học sinh hai trường tiểu học tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và một số yếu tố liên quan” với mục tiêu: 1.
Đánh giá thực trạng dinh dưỡng của học sinh hai trường tiểu học tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại địa điểm nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản và phân loại tình trạng dinh dƣỡng 1.
Dinh dưỡng Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [32]. Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng. TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ [32].
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là sự mất cân bằng giữa nhu cầu dinh dưỡng và lượng nhập vào ở trẻ, dẫn đến việc thâm hụt tích lũy năng lượng, protein hoặc vi chất dinh dưỡng, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng, phát triển và những vấn đề có liên quan khác ở trẻ. SDD thể thấp còi ở trẻ em được thể hiện ở tình trạng chiều cao của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều cao theo tuổi" (CC/T) thấp dưới - 2 Z - Score (hoặc dưới -2 SD so với chuẩn tăng trưởng của TCYTTG 2007). SDD thể thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Tỷ lệ thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi.
Tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còi phổ biến hơn tỷ lệ hiện mắc SDD thiếu cân ở mọi nơi trên thế giới vì có những trẻ 4 bị thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp. Thiếu protein năng lượng ở trẻ em ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, trẻ sẽ chậm phát triển về cân nặng và chiều cao so với chuẩn chung, quá trình này là một trong các nguyên nhân dẫn đến SDD ở trẻ em. Hậu quả của SDD có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Suy dinh dưỡng lúc nhỏ còn ảnh hưởng lâu dài đến khả năng phát triển trí tuệ hành vi và khả năng lao động thể lực, trí lực cũng như một số bệnh mãn tính ở tuổi trưởng thành [20].
Thừa cân, béo phì (TC, BP) là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ. Trẻ TC, BP dễ mắc các bệnh về tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường,.Trẻ còn dễ rối loạn giấc ngủ, dễ bị chứng ngừng thở lúc ngủ; nguy cơ dậy thì sớm hoặc rối loạn kinh nguyệt, có thể ảnh hưởng khả năng sinh sản về sau và hạn chế chiều cao của trẻ [18]. Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là một kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học.
Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dưỡng. Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là chỉ số nhạy, khách quan và có ý nghĩa, được ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng [5], [32], [54]. Phân loại lâm sàng * Thể lâm sàng điển hình: Marasmus, Kwashiorkor và phối hợp Marasmus - Kwashiorkor [5], [32], [49], [54]. SDD thể teo đét (Marasmus): Hay gặp trên lâm sàng.
Ở thể này trẻ bị SDD trầm trọng, thiếu tất cả các chất dinh dưỡng: protein, glucid, lipid ở mức độ cao. Năng lượng hầu như không có, phải huy động toàn bộ chất dự trữ và 5 biểu hiện lâm sàng chính là mất hết lớp mỡ toàn thân. SDD thể teo đét có thể xảy ra ngay trong năm đầu tiên, khác với SDD nặng thể phù (Kwashiorkor) chủ yếu xảy ra ở nhóm 1 - 3 tuổi. Thể này nếu điều chỉnh chế độ ăn kịp thời, giải quyết được nguyên nhân, trẻ sẽ nhanh chóng hồi phục, tiên lượng trước mắt tốt hơn thể phù [5], [32], [49], [54].
SDD thể phù (Kwashiorkor): Ít gặp hơn nhiều so với thể Marasmus. Bệnh thường gặp ở trẻ em trên 1 tuổi, nhiều nhất là giai đoạn từ 1 - 3 tuổi, hiếm gặp ở người lớn. Trẻ được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn mà khối lượng thức ăn tuy nhiều nhưng mất cân bằng về các chất, không thiếu hoặc thiếu hụt nhẹ chất đường bột (glucid) nhưng lại thiếu chất béo (lipid) và đặc biệt là thiếu chất đạm (protein). Ở trẻ này lúc đầu không có hiện tượng sụt cân, chủ yếu biểu hiện là xanh, cơ nhão [5], [32], [49], [54].
Thể phối hợp (Marasmus - Kwashiorkor): Thể này thường gặp nhiều hơn so với hai thể trên, thường phối hợp giữa Marasmus và Kwashiorkor khi trẻ có biểu hiện gầy đét nhưng có phù [5], [32], [49], [54]. Phân loại suy dinh dưỡng trong cộng đồng Cân nặng theo tuổi: Là chỉ số được dùng sớm và phổ biến nhất. Trẻ có cân nặng theo tuổi thấp là trẻ bị SDD chung, không phân được SDD mạn tính hay cấp tính, trường hợp này còn được gọi là trẻ nhẹ cân (underweight). Chỉ số này được dùng để đánh giá SDD của cá thể hay cộng đồng [5], [32], [49].
Chiều cao theo tuổi: Chiều cao theo tuổi phản ảnh sự tăng trưởng về chiều cao, chiều cao theo tuổi thấp chỉ sự thiếu sức khỏe hay thiếu dinh dưỡng đã kéo dài và tích lũy. Trẻ có chiều cao theo tuổi thấp gọi là trẻ SDD mạn tính hay trẻ bị còi cọc hoặc SDD thể thấp còi [5], [32], [49]. BMI theo tuổi: Cân nặng theo chiều cao phản ánh trọng lượng với cơ thể, chỉ số này thấp là hậu quả của một quá trình cấp tính và nặng dẫn tới mất cân bằng đáng kể, thường là đói cấp tính hoặc bệnh nặng. Trẻ có cân nặng theo 6 chiều cao thấp gọi là trẻ SDD cấp hay gày mòn hoặc thể gày còm là chỉ số đánh giá SDD hiện tại, cần phải ưu tiên can thiệp [5], [32], [49].
Tiêu chuẩn chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi Ở thời kỳ đầu, để đánh giá TTDD người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gày, béo, tiếp đó là dựa vào một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet. Hiện nay sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá TTDD là phương pháp dễ làm và được áp dụng rộng rãi, các số đo nhân trắc của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thể đạt được hoặc thay đổi qua thời gian. Đây là phương pháp được dùng để mô tả TTDD của cá thể hay cộng đồng [60]. Để đánh giá TTDD ở trẻ từ 0 đến 19 tuổi (trong đó có đối tượng tiểu học) được nhận định chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu sau: Cân nặng theo tuổi: Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất, cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể tham chiếu TCYTTG [60].
Chiều cao theo tuổi: Chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể tham chiếu [60]. BMI theo tuổi: Phản ánh TTDD thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm trẻ ngừng lên cân hay tụt cân. Thang phân loại dựa vào độ lệch chuẩn [60].