CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm, phân loại và chẩn đoán cong vẹo cột sống ở trẻ em 1. Sơ lược giải phẫu, sinh lý cột sống Về giải phẫu: cột sống bao gồm 33 - 34 đốt sống (7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng và 4 - 5 đốt cụt) được nối với nhau bằng các đĩa đệm, khớp và dây chằng, tạo thành khung nâng đỡ cơ thể. Nhìn từ phía sau, cột sống thẳng, các gai đốt sống nhô ra sau.
Nhìn từ phía bên, cột sống có 4 đoạn cong sinh lý, đoạn cổ cong ra sau, đoạn lưng cong ra trước, đoạn thắt lưng cong ra sau, đoạn cùng cụt cong ra trước [27]. Đặc điểm giải phẫu cột sống. Nguồn: Atlas giải phẫu người Mỗi đốt sống gồm hai thành phần: thân đốt sống và cung sau. Thân đốt sống là một khối hình trụ, khá chắc chắn.
Thân đốt sống di động được nhờ đĩa sống và các dây chằng liên kết hai thân đốt kế nhau [27]. - Một số đặc điểm phát triển cột sống của trẻ em: 4 Trẻ 6 tuổi bắt đầu phát triển về chiều cao, chiều ngang phát triển chậm hơn nên tuổi này trông trẻ không bụ bẫm lắm. Trẻ 6 lên 7 tuổi có chiều cao tăng nhanh, đạt 7 - 10 cm/năm. Trẻ 8 - 10 tuổi, sự tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt 3 - 5 cm/năm nên gọi là thời kỳ tròn người, ở trẻ nữ khung chậu phát triển mạnh để thích nghi với chức năng sinh sản sau này.
Đến tuổi dậy thì chiều cao lại tiếp tục tăng nhanh, đạt 5 - 8 cm/năm (đây là thời kỳ thứ hai của sự vươn dài người ra). Giữa chiều cao và cân nặng không có sự phụ thuộc theo một tỷ lệ nghiêm ngặt nào, nhưng thông thường cùng một lứa tuổi, những trẻ cao hơn có cân nặng lớn hơn [31]. Giai đoạn trẻ em từ 8 đến 9 tuổi và từ 11 đến 12 tuổi cột sống thay đổi nhiều nhất vừa thay đổi về chiều dài, vừa thay đổi về cấu trúc thành phần hoá học của cột sống. Cột sống tăng rất nhanh về chiều dài ở giai đoạn từ 13 đến 25 tuổi ở trẻ em nam, từ 8 đến 18 tuổi ở trẻ em nữ.
Lứa tuổi đang lớn này, bản thân các đốt sống và gân cơ, dây chằng còn non yếu nên cột sống rất dễ uốn vặn, vẹo, lệch. Vì đây là giai đoạn bộ xương các em nhiều chất hữu cơ, dần dần sụn mới hóa vôi thành xương cứng cáp, nên trong thời gian này dễ mắc cong vẹo nếu các em không giữ tư thế ngay ngắn khi ngồi học, các hoạt động, thói quen sai tư thế kéo dài thì khuôn xương của các em sẽ rất dễ bị cong vẹo. Mức độ cong vẹo cột sống của trẻ em càng nhiều qua thời gian nếu như ngồi sai tư thế trong học tập, lao động và sinh hoạt kéo dài trong thời gian này [36]. Khái niệm, phân loại cong vẹo cột sống ở học sinh Cong vẹo cột sống (biến dạng cột sống) là tình trạng cột sống bị nghiêng, lệch về một phía hoặc bị cong quá mức về phía trước hay phía sau, do đó không còn giữ được các đoạn cong sinh lý như bình thường của cơ thể [36],[86].
Vẹo cột sống: là cột sống có đường cong nhìn từ phía sau lưng, hay gặp hai loại đường cong hình chữ C hoặc chữ S [6],[7]. Về phân loại cong vẹo cột sống ở học sinh, có một số cách phân loại phổ biến bao gồm phân loại theo nguyên nhân, theo hình dáng, vị trí hoặc theo mức độ biến đổi của cột sống, cụ thể như sau: 5 - Phân loại cong vẹo cột sống theo nguyên nhân: bao gồm một số nguyên nhân như bẩm sinh, CVCS do thần kinh cơ như bại não, bại liệt, loạn dưỡng cơ, lịch chiều dài chi, trật khớp háng bẩm sinh. CVCS liên quan đến phẫu thuật thành ngực khi còn nhỏ, CVCS do chấn thương hoặc nhiễm trùng cột sống và đặc biệt là CVCS vô căn. CVCS vô căn chiếm khoảng 80% tổng số trường hợp bị CVCS, xuất hiện phổ biến ở tuổi thiếu niên.
Hiện nay, nguyên nhân chính xác vẫn chưa được xác định rõ, các yếu tố có thể liên quan đến CVCS vô căn bao gồm di truyền, chế độ dinh dưỡng và đặc biệt là cơ sinh học (tư thế ngồi, các thói quen không tốt cho cột sống) [48]. - Phân loại cong vẹo cột sống theo hình dáng: bao gồm dạng cong cột sống (gù, ưỡn) và vẹo cột sống (hình C, S) [6], [78]. + Gù lưng: ở tư thế đứng thẳng nhìn từ phía bên, đường cong cột sống nhô lên quá cao làm thân hình ngắn lại. Gù lưng hay đi kèm với vẹo cột sống.
+ Ưỡn lưng: thường ưỡn thắt lưng, ở tư thế đứng thẳng nhìn nghiêng về phía bên, vòng cong thắt lưng ưỡn ra phía trước làm cho ngực nhô lên, hai vai so lại, mặt và cổ có xu hướng ngửa lên. + Vẹo cột sống hình chữ C: vẹo hoàn toàn làm đường cong lồi sang một bên, đường nối hai vai nghiêng, đường nối mỏm xương bả vai nghiêng, đường nối mào chậu nghiêng, tam giác thân hai bên không bằng nhau. Vẹo chữ C không hoàn toàn thường diễn ra ở khoảng đốt sống lưng 5 đến đốt sống lưng 8. Vẹo lưng phải và vẹo lưng trái mà các dấu hiệu dễ nhận biết nhất là hai bả vai khác nhau.
Vẹo thắt lưng thường mặt lồi về phía trái, tam giác thân phải sâu, mạn sườn phải lõm hơn. Vẹo chữ C thuận: toàn bộ vẹo cả phần lưng và thắt lưng, cột sống vẹo đều sang trái, (hoặc) chỉ vẹo lưng - thắt lưng. Vẹo chữ C ngược: toàn bộ vẹo cả phần lưng và thắt lưng, cột sống vẹo sang phải, (hoặc) chỉ vẹo lưng - thắt lưng. + Vẹo chữ S thường gặp ở đoạn lưng, thắt lưng.
Vẹo chữ S thuận: vẹo 2 đoạn cong đối lập nhau, đoạn trên (lưng) vẹo sang trái, đoạn dưới (thắt lưng) vẹo sang 6 phải, giống chữ S thuận.Vẹo chữ S ngược: vẹo 2 đoạn cong đối lập nhau, vẹo cả đoạn lưng và thắt lưng, đoạn trên vẹo sang phải, dưới sang trái, chữ S ngược [16]. - Phân loại theo vị trí: bao gồm các loại như vẹo cột sống cổ ngực (đỉnh của đường cong nằm ở T3-T4), vẹo cột sống ngực (đỉnh của đường cong nằm ở T8- T9), vẹo cột sống ngực - thắt lưng (đỉnh đường cong nằm ở T11-T12), vẹo cột sống thắt lưng (đỉnh đường cong nằm ở L1-L2), vẹo cột sống thắt lưng-cùng (đỉnh đường cong nằm ở L5-S1) [78]. - Phân loại dựa vào mức độ biến đổi cột sống: trong kiểu phân loại này, có 2 cách, cách thứ nhất là phân chia thành 2 nhóm CVCS không cấu trúc và cấu trúc. CVCS không có cấu trúc (do tư thế xấu) là khi trẻ đứng ở tư thế tự nhiên, cột sống có đường cong bất thường nhưng mất đi khi đứng thẳng, hoặc nằm, hoặc khi uốn thẳng, không có ụ lồi của xương sườn, sử dụng thước Scoliometer có góc từ 70 trở lên và trên X quang (XQ) các đốt sống bình thường, không bị xoáy vặn [36].
CVCS có cấu trúc là cột sống có đường cong bất bình thường, ổn định không bị mất đi khi cố uốn thẳng nhưng có ụ lồi xương sườn, đo bằng Scoliometer có góc thường từ 70 trở lên, trên XQ các đốt sống có thể có các hình ảnh bất thường, có hình ảnh xoáy vặn, di lệch [36]. Cách phân loại thứ 2 dựa vào mức độ vẹo cột sống, có 4 mức độ: vẹo cột sống mức độ 1 khi đường cong cột sống trên mặt phẳng trái phải không hiện rõ và mất đi khi nằm ở tư thế ngang, có sự mất cân đối của 2 bờ vai và xương bả vai trong trường hợp vẹo cột sống phần cổ - ngực và ngực, mất cân đối eo trong trường hợp vẹo thắt lưng, mất cân đối của cơ ở vị trí uốn cong; góc của cung vẹo từ 1750 - 1700 (góc vẹo 50 - 100). Vẹo cột sống mức 2 khi cột sống uốn cong rõ rệt hơn, không mất đi hoàn toàn khi nắn chỉnh, có đường cong bù trừ và ụ lồi xương sườn không lớn, góc cung vẹo từ 1690 - 1500. Vẹo cột sống mức 3 khi cột sống uốn cong rõ rệt trên mặt phẳng trái-phải với đường cong bù trừ, biến dạng lồng ngực rõ và ụ lồi xương sườn lớn, sự điều chỉnh khi nắn lại cột sống không đáng kể, góc cung vẹo từ 1490 - 1200 (góc vẹo từ 310 - 600).
Vẹo cột sống mức 4 khi có sự ổn định rất rõ rệt, có rối loạn chức năng tim và phổi, góc cung vẹo nhỏ hơn 1200 (góc vẹo lớn hơn 600) [36], [56],[40]. Chẩn đoán cong vẹo cột sống ở trẻ em 1. Các dấu hiệu, triệu chứng của cong vẹo cột sống ở trẻ em Trẻ mắc CVCS có thể bị đau lưng, đau, mỏi các chi, vận động hạn chế, học tập và làm việc kém hiệu quả. Khi khám thực thể một số dấu hiệu nhận biết bao gồm một bên mỏm vai nhô cao hơn mỏm vai bên đối diện và xương bả vai ở hai bên không cân đối với nhau; khi đứng, thân người có thể nghiêng sang một bên và cột sống có thể cong vẹo sang một hoặc hai bên.
Một dấu hiệu rõ ràng là sự xuất hiện của ụ gồ ở lưng, đặc biệt khi trẻ đứng cúi lưng. Cột sống cũng có thể ưỡn ra phía trước hoặc gù ra phía sau, tạo nên một hình dáng không đều và không cân đối. Khung chậu thường bị nghiêng lệch và xoay, ảnh hưởng đến sự cân bằng của cả cơ thể. Các khớp cũng có thể bị tác động, chẳng hạn như khớp háng một bên cao hơn bên đối diện, và ngấn mông một bên có thể cao hơn bên kia.
Khi nằm gập gối, khớp gối cũng thể hiện sự không cân đối [14], [39], [56], [40]. Các phương pháp chẩn đoán cong vẹo cột sống ở trẻ em Chẩn đoán tật cong vẹo cột sống ở trẻ em có thể được thực hiện dựa trên thăm khám lâm sàng hoặc sử dụng các phương pháp cận lâm sàng. - Phương pháp khám lâm sàng: bác sĩ cần khám vẹo bằng cách đánh giá sự cân đối của 2 mỏm xương bả vai, 2 bờ vai, tam giác eo ở 2 bên sườn, miết tay theo cột sống, đánh dấu đỉnh của các gai đốt sống, dùng dây dọi. so sánh cột sống với một đường thẳng để tìm độ lệch [35].
Bên cạnh đó, đánh giá sự cong cột sống bằng cách nhìn từ phía bên (nhìn nghiêng) thấy hai mỏm vai bị dô ra trước và thu hẹp lại (vai so), khi có cong cột sống xương bả vai nhô lên, hai mỏm bả vai doãng xa nhau, nếu có cong đoạn cột sống ngực lõm ra sau, các xương sườn lộ rõ; ngoài ra ở trẻ CVCS có thể thấy bụng ưỡn ra trước [35]: 8 Hình 1.