ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình phát triển xã hội, yếu tố con người luôn đóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trẻ em. Trẻ em là chủ nhân tương lai của mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, sự phát triển về thể lực trí tuệ của trẻ luôn được quan tâm hàng đầu. Tăng trưởng ở trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng, bệnh tật và môi trường sống.
Yếu tố di truyền: Bao gồm các yếu tố về giới, chủng tộc; các yếu tố gen; các bất thường bẩm sinh. Yếu tố môi trường: Bao gồm điều kiện kinh tế- xã hội, điều kiện địa lý, các yếu tố về bà mẹ, yếu tố dinh dưỡng, hoạt động thể lực, yếu tố tâm lý…[1],[2]. Ở trẻ nhỏ, giai đoạn tiểu học từ 7 đến 10 tuổi là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em thành trẻ vị thành niên. Trong giai đoạn này, trẻ thường có những chuyển biến về mức tăng trưởng thể chất cũng như tinh thần và là một giai đoạn phát triển quan trọng làm nền tảng cho những thời điểm tiếp theo trong cuộc đời trẻ.
Việc cải thiện dinh dưỡng không chỉ quan trọng ở những năm đầu đời mà còn là một quá trình liên tục suốt những năm học đường đặc biệt là giai đoạn vị thành niên [3]. Lứa tuổi dậy thì đặc trưng bởi sự tăng trưởng vượt bậc về cơ bắp, khung xương cũng như các chức năng sinh dục mới. Ở giai đoạn 10 tuổi, cứ mỗi năm lại tăng thêm 6 cm ở bé gái và tăng dần đến khi đạt được 9 cm một năm ở đội tuổi 12. Đỉnh tốc độ tăng trưởng của trẻ nam là 12 tuổi (5 cm/ năm) và đạt tối đa ở 14 tuổi (10 cm/ năm).
Tốc độ tăng trưởng sẽ giảm dần và tiệm cận 0 ở độ tuổi 15 ở nữ và 17 ở nam giới. Thời gian phát triển chiều cao mạnh nhất ở nữ giới là 8-17 tuổi, quyết định đến 23% chiều cao trung bình ở người trưởng thành. Kích thước xương, khối lượng xương và mật độ chất khoáng ở mỗi xương tăng lên khoảng 4% mỗi năm tính từ giai đoạn trẻ 8 tuổi cho đến qua 2 giai đoạn vị thành niên [4]. Trong giai đoạn này, cơ thể có nhiều cơ hội để khắc phục các tình trạng chậm tăng trưởng do thiếu dinh dưỡng ở các giai đoạn trước.
Vai trò của một số loại vi chất dinh dưỡng như canxi, sắt, kẽm, vitamin A, vitamin D.đối với tăng trưởng ở trẻ em nói chung đã được đề cập từ lâu. Tuy nhiên, vitamin K2 gần đây mới được các nghiên cứu chứng minh có hiệu quả trong việc giúp xương chắc khỏe hơn. Vitamin K2 có tác dụng hoạt hóa protein osteocalcin giúp gắn canxi vào xương, do vậy có tác dụng làm tăng mật độ xương, giảm tốc độ loãng xương [5],[6]. Trường học cung cấp môi trường thể chất, xã hội và giáo dục cho trẻ em, có khả năng định hình hoạt động thể chất và hành vi ăn uống của trẻ.
Do đó, việc tổ chức tại trường học những hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng và tổ chức/khuyến khích các hoạt động thể dục thể thao ở trẻ em tiểu học là vô cùng cần thiết để chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho trẻ có thể phát huy được tối đa tiềm năng phát triển khi bước vào tuổi dậy thì [7]. Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuộc Đồng Bằng sông Hồng, kinh tế xã hội tuy đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vẫn còn là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó cho đến nay chưa có nhiều thông tin về tình trạng dinh dưỡng của nhóm trẻ từ 7-10 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trong phát triển thể chất của trẻ vì là nền tảng cho giai đoạn tăng tốc về tăng trưởng ở giai đoạn dậy thì. Hiện nay, trên cả nước nói chung và tại tỉnh Thái Bình nói riêng, chưa có nghiên cứu nào toàn diện về việc bổ sung vitamin K2 cũng như các biện pháp can thiệp để cải thiện mật độ xương và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em.
Nhằm góp phần đề xuất biện pháp can thiệp để cải thiện tầm vóc người Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài: “Hiệu quả bổ sung vitamin K2 và một số biện pháp can thiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe xương ở trẻ em 7-10 tuổi tại huyện Tiền Hải, Thái Bình” nhằm mục tiêu: 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 7 đến 10 tuổi ở 3 trường tiểu học huyện Tiền Hải, Thái Bình. Xác định tình trạng sức khỏe xương (mật độ xương, khối lượng xương, nồng độ vitamin D, canxi ion và osteocalcin) ở trẻ em từ 7 đến 10 tuổi chậm tăng trưởng chiều cao tại địa bàn nghiên cứu. Đánh giá hiệu quả bổ sung Vitamin K2 và một số biện pháp can thiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe xương ở trẻ em từ 7 đến 10 tuổi chậm tăng trưởng chiều cao tại địa bàn nghiên cứu.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm phát triển chiều cao và các yếu tố ảnh hưởng 1. Đặc điểm phát triển chiều cao trẻ em Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển vì vậy tăng trưởng là một đặc điểm sinh học cơ bản. Có năm nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em: di truyền, môi trường, nội tiết, bệnh tật và khuynh hướng thời gian.
Mô hình tăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà thay đổi theo thời gian. Sự tăng trưởng của xương ở trẻ em sẽ quyết định đến chiều cao của một người sau này. Ở lứa tuổi tiểu học tốc độ tăng trưởng chiều cao khoảng 5,5cm mỗi năm, mật độ xương cũng tăng lên khoảng 1% một năm ở cả bé trai và bé gái. Giai đoạn tiền dậy thì là giai đoạn mà khẩu phần ăn (năng lượng và các chất dinh dưỡng) rất cần thiết cho phát triển cơ thể trẻ em trước khi dậy thì.
Đối với lứa tuổi này, khẩu phần ăn (protein nguồn gốc động vật) và chiều cao của cha mẹ có mối liên quan dương tính với mức tăng chiều cao trẻ em [4]. Đặc điểm phát triển ở giai đoạn này là có sự tác động của hormone tăng trưởng GH có khả năng kích thích chiều dài của xương. Hàm lượng hormone này ở tuổi tiền dậy thì tăng lên và bên cạnh việc kích thích tăng trưởng, nó còn có chức năng điều chỉnh chuyển hóa protein, lipid và glucid [8]. Tuổi tiểu học là giai đoạn quyết định sự phát triển tối đa các tiềm năng di truyền liên quan đến tầm vóc, thể lực và trí tuệ.
Đây là giai đoạn trẻ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết chuẩn bị cho giai đoạn dậy thì tiếp theo, là giai đoạn có sự biến đổi nhanh cả về thể chất và tâm lý, nhưng cũng là giai đoạn rất dễ bị tổn thương khi bị thiếu hụt về dinh dưỡng. Đặc biệt trong giai đoạn những năm đầu tiên của cuộc đời, sự phát triển về trí tuệ và khả năng học tập của một con người được hình thành và phát triển hơn 50%, khoảng 30% tiếp theo được phát triển cho đến khi trẻ được 8 tuổi, từ đó trí tuệ con người sẽ tiếp tục phát triển trong quá trình 5 học tập và làm việc trong những năm tiếp theo. Điều này cho thấy, việc cải thiện dinh dưỡng không chỉ quan trọng ở những năm đầu đời, mà là một quá trình liên tục cả những năm tuổi học đường đặc biệt là giai đoạn vị thành niên [9]. Lứa tuổi dậy thì đặc trưng bởi sự tăng trưởng vượt bậc về cả cơ bắp, khung xương cũng như các chức năng sinh dục mới.
Ở giai đoạn 10 tuổi, cứ mỗi năm lại tăng 6cm ở bé gái và tăng dần đến khi đạt được 9cm một năm ở độ tuổi 12. Đỉnh tốc độ tăng trưởng của trẻ nam là 12 tuổi (5cm/năm) và đạt tối đa đến 14 tuổi (10cm/năm). Tốc độ tăng trưởng sẽ giảm dần và tiệm cận 0 ở độ tuổi 15 ở nữ giới và 17 ở nam giới. Thời gian phát triển chiều cao mạnh nhất ở nữ giới là từ 8-17 tuổi, quyết định đến 23% chiều cao trung bình ở người trưởng thành.
Kích thước xương, khối lượng xương và mật độ chất khoáng ở mỗi xương tăng lên khoảng 4% mỗi năm tính từ giai đoạn trẻ 8 tuổi cho đến qua giai đoạn vị thành niên [8]. Sự tích lũy nhanh chóng về khối lượng xương có liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển chiều cao và có thể cả sự hoạt động của các hormone tăng trưởng như hormone tăng trưởng giống insulin 1 (IGF-1), steroid sinh dục và các receptor của các hormone. Tích lũy IGF-1 tương quan với sự phát triển giới tính và sự tương tác với các steroid sinh dục. Cụ thể là, sự tăng tiết các hormone sinh dục sẽ làm tăng tiết IGF-1 [10].
Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chiều cao 1. Yếu tố di truyền Chiều cao là một đặc điểm nhân trắc học quan trọng của con người, có thể đo lường và ước tính được sự phân bố chiều cao trung bình trong quần thể. Những nghiên cứu trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 trên những cặp song sinh được nhận nuôi hoặc được chính sự chăm sóc trong gia đình cho thấy chiều cao là một đặc điểm mang tính di truyền [11],[12]. Yếu tố di truyền quyết định tiềm lực tối đa có thể đạt được (chiều cao, cân nặng) của một cá thể.
Nhiều quan sát trên các chủng tộc người khác nhau 6 cho thấy có sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến chiều cao, cân nặng, vóc dáng của người trưởng thành. Tuy nhiên, số liệu điều tra và kết quả một số nghiên cứu cho thấy rằng sự khác nhau về tiềm năng tăng trưởng giữa các chủng tộc có thể do dinh dưỡng và môi trường hơn là do di truyền. Qua so sánh số liệu từ một số nước phát triển và kém phát triển nhận thấy ở các vùng đô thị với quần thể dân cư được nuôi dưỡng tốt thì chỉ 3% sự khác nhau về chiều cao và 6% về cân nặng là có thể quy cho chủng tộc; ngược lại, sự khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội và tình trạng dinh dưỡng giữa nông thôn và thành thị có thể lên đến 12% về chiều cao và 30% về cân nặng trong cùng một nhóm chủng tộc [1]. Chiều cao con người được kiểm soát bởi nhiều gen và cả yếu tố môi trường.