ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm nhiễm đường sinh dục là một trong những bệnh hay gặp ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ và là bệnh gặp nhiều nhất trong các bệnh phụ khoa [65], [115]. Bệnh gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khỏe sinh sản, lao động và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Viêm nhiễm đường sinh dục còn là nguyên nhân vô sinh, chửa ngoài tử cung, sẩy thai và nhiều biến chứng khác. Bệnh cũng là yếu tố gây cản trở việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, là yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục [7], [50].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có khoảng 50% phụ nữ tuổi sinh đẻ trên thế giới bị viêm nhiễm đường sinh dục, tập trung nhiều ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [96], [115], [103]. Vì vậy, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo ưu tiên kiểm soát và khống chế bệnh viêm nhiễm đường sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV [116]. Tại Việt Nam, tỉ lệ hiện mắc viêm nhiễm đường sinh dục chiếm tương đối cao, dao động từ 40 - 80% theo từng nghiên cứu [110], [111]. Theo một số nghiên cứu trước đây cho thấy: tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ khu vực biển đảo thành phố Hải Phòng là 46,5% [68]; ở Hà Nội là 37,0% [92]; ở Thừa Thiên Huế là 23,3% [41].
Điều đáng chú ý là tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ nông thôn thường tăng cao hơn so với một số vùng khác, ví dụ như ở vùng nông thôn chiêm trũng Hà Nam (58,4%); vùng nông thôn đồng bằng Hải Dương (52,0%); thậm chí ở phụ nữ dân tộc Thái vùng nông thôn miền núi Nghệ An (64,1%) [51]. Ở nước ta, chương trình phòng chống bệnh viêm nhiễm đường sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV đã được thực hiện từ lâu [8], [9], [11], [57], [62] nhưng nhìn chung hiệu quả của các chương trình này còn thấp, đặc biệt là tại các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa [65]. Tại 2 các vùng này, phụ nữ là đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục, do những yếu tố bất lợi về điều kiện vệ sinh, điều kiện lao động, mức sống thấp [12], [65], [92]. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế [12], [65], kiến thức về viêm nhiễm đường sinh dục chưa cao [65], [63], [111] và sự tồn tại của bất bình đẳng giới [65] đã làm gia tăng tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại khu vực này.
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của người nông dân ở mức trung bình [14]; công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì thế mà tỉ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ có thể cao và có thể cần có những giải pháp phòng chống viêm nhiễm đường sinh dục hiệu quả dành cho phụ nữ nông thôn miền núi. Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng bệnh viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ở nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên hiện nay ra sao? Yếu tố nguy cơ nào tác động đến tỉ lệ bệnh viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ? Giải pháp nào để phòng chống bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ở nông thôn miền núi Thái Nguyên hiệu quả? Xuất phát từ những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học viêm nhiễm dường sinh dục dưới ở phụ nữ nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả giải pháp can thiệp”. Với các mục tiêu sau: 1.
Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học viêm nhiễm đường sinh dục dưới của phụ nữ nông thôn miền núi độ tuổi sinh đẻ có chồng tỉnh Thái Nguyên năm 2012. Xác định một số yếu tố viêm nhiễm đường sinh dục dưới của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ có chồng ở nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp phòng chống viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ nông thôn xã Thành Công, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên sau 2 năm can thiệp. Khái quát về bệnh viêm nhiễm đƣờng sinh dục 1.
Khái niệm về viêm nhiễm đường sinh dục Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) là một bệnh lý do viêm nhiễm tại bộ phận sinh dục nữ, từ âm hộ, âm đạo, cổ tử cung (CTC), tử cung, phần phụ sinh dục và tiểu khung [10], [18], [69]. Khoảng 1/2 các trường hợp phụ nữ đến khám tại các phòng khám phụ khoa là vì những triệu chứng có liên quan đến bệnh lý VNĐSD. Trong các bệnh phụ khoa nói chung, gần 90% phụ nữ bị VNĐSD [18], [27], [69], [79]. Phân loại viêm nhiễm đường sinh dục Dựa vào vị trí viêm nhiễm về mặt giải phẫu mà VNĐSD được chia thành 2 loại, bao gồm: VNĐSD dưới và VNĐSD trên.
- VNĐSD dưới, bao gồm: Viêm âm hộ, Viêm âm đạo, Viêm CTC. - VNĐSD trên, bao gồm : viêm nhiễm ở tử cung , vòi tử cung , buồng trứng, phúc mạc vùng chậu và tiểu khung [7], [27], [69], [79]. Dựa theo hình thái viêm nhiễm mà VNĐSD được chia thành: VNĐSD cấp tính và VNĐSD mạn tính. - VNĐSD cấp tính: với các dấu hiệu, triệu chứng ở các mức độ khác nhau, như sưng nóng, đau, sốt, khí hư nhiều và hôi bẩn… Nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời sẽ có kết quả tốt hơn.
Tuy nhiên các VNĐSD cấp tính ít gặp hơn so với viêm mạn tính. - VNĐSD mạn tính: thường chỉ với các dấu hiệu nghèo nàn như ra khí hư nhiều hơn bình thường và hôi, đau dấm dứt không thường xuyên… VNĐSD mạn tính ít được quan tâm thăm khám, điều trị cũng kéo dài và kết quả hạn chế [7], [18], [69], [76], [79]. Nguyên nhân gây một số viêm nhiễm đường sinh dục thường gặp Các VNĐSD gây ra bởi các vi sinh vật thường có mặt tại đường sinh sản hoặc do các vi sinh vật từ bên ngoài vào thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế [10], [76]. Nguyên nhân VNĐSD ở phụ nữ nhìn chung chủ yếu liên quan tới nhiễm khuẩn sau đẻ, sau sẩy thai và nạo hút thai, do vệ sinh trong lao động, vệ sinh kinh nguyệt và vệ sinh giao hợp chưa hợp lý Nguyên nhân VNĐSD thường gặp do nhiễm trực khuẩn, cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn coli, trực khuẩn lao, ký sinh trùng nấm, trùng roi và các tạp khuẩn khác [7], [18].
Nếu được phát hiện và điều trị kịp thời, được tư vấn phòng bệnh tốt, bệnh VNĐSD sẽ khỏi hoàn toàn và không ảnh hưởng gì cho sức khỏe sinh sản (SKSS) [76]. Đặc điểm viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ VNĐSD là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ , đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. VNĐSD ở phụ nữ gồm 3 loại: (1) Các nhiễm khuẩn LTQĐTD như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV.; (2) Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ - âm đạo do nấm men; (3) Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn. Các VNĐSD trên có thể dự phòng hoặc có thể chữa khỏi được [16].
Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc SKSS đã đưa ra các chỉ dẫn cụ thể để khám phát hiện bệnh [10], trong đó khám lâm sàng cần phải chú ý đến: - Khám bộ phận sinh dục ngoài phát hiện dịch âm đạo : màu sắc, mùi, đặc điểm dịch (dịch nhiều hay ít, trong hay đục, vàng, xanh, có mủ, có bọt, có dính vào thành âm đạo không, lẫn máu không). - Khám trong để đánh giá tính chất khí hư (màu, số lượng, mùi). Đánh giá dịch ở trong ống CTC: dịch trong, dịch mủ hoặc mủ có lẫn máu. Phát hiện các các tổn thương loét, hột hoặc sùi trong CTC và thành âm đạo [10].
5 Về lâm sàng, khó có thể phân biệt được đâu là VNĐSD do bệnh phụ khoa thông thường, đâu là VNĐSD do bệnh LTQĐTD. Muốn xác đị nh rõ loại bệnh lý VNĐSĐ thì cần dựa vào các hội chứng chí nh gây VNĐSD. Đây là phương pháp tiếp cận được Bộ y tế hướng dẫn sử dụng [10]. Phương pháp này chia các biểu hiện lâm sàng của VNĐSD thành 5 hội chứng chính.
Nhân viên y tế dựa vào 5 hội chứng này để chẩn đoán , điều trị sớm các VNĐSD ở phụ nữ thường gặp một cách hiệu quả nhất. Các hội chứng bao gồm: - Hội chứng tiết dịch âm đạo bao gồm: viêm âm đạo do trùng roi, nấm nem, vi khuẩn kỵ khí, viêm CTC mủ nhầy do lậu cầu khuẩn. - Bệnh sùi mào gà sinh dục ở nữ do virút gây u nhú ở người. - Hội chứng đau bụng dưới ở phụ nữ do: lậu cầu, Chlamydia trachomatis, Gardnerella vaginalis và các vi khuẩn kỵ khí âm đạo.
- Hội chứng loét sinh dục ở nữ do các tác nhân: Xoắn khuẩn giang mai, trực khuẩn hạ cam Herpes sinh dục. - Hội chứng sưng hạch bẹn Các thể lâm sàng thường gặp trong VNĐSD ở phụ nữ bao gồm: - Viêm âm hộ - Viêm âm đạo do trùng roi (Trichomonas vaginalis) - Viêm âm đạo do nấm - Viêm âm đạo do vi khuẩn - Bệnh lậu ở phụ nữ (viêm CTC và viêm niệu đạo do lậu) - Viêm CTC và niệu đạo do Chlamydia ở nữ 1. Đặc điểm dịch tễ viêm nhiễm đƣờng sinh dục ở phụ nữ 1. Viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ trên thế giới VNĐSD là một trong những bệnh hay gặp ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ trên khắp thế giới [65], [115], [117].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các VNĐSD bao gồm các VNĐSD không lây truyền qua đường tình dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD). Trong đó mỗi ngày có gần một triệu ca nhiễm mới thuộc các nhiễm khuẩn LTQĐTD. Các VNĐSD 6 không LTQĐTD còn phổ biến hơn. Theo WHO, ước tính có khoảng 50% phụ nữ tuổi sinh đẻ trên thế giới bị VNĐSD, tập trung nhiều ở các nước đang phát triển [96], [103], [115].
Các nghiên cứu về VNĐSD trên thế giới gần đây, đều cho thấy tỉ lệ hiện mắc VNĐSD cao nhất tập trung ở các quốc gia thuộc châu Phi, nam châu Á đến châu Mỹ La tinh; các nước châu Âu và bắc Mỹ có tỉ lệ hiện mắc VNĐSD thấp nhất [76], [116].