ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở thành nỗi lo thường trực của cộng đồng. Nhiều chất độc hại có thể qua con đường tiêu hóa , hô hấp, da… vào cơ thể gây độc hại cho con người. Nhiều kim loại độc hại gây ô nhiễm môi trường như chì, cadimi, thủy ngân, asen… luôn là nguy cơ cao đối với sức khỏe. Từ những năm 1970 trở lại đây, khối lượng Pb, Cd, As được đào thải vào môi trường đã tăng gấp bội.
Chúng làm ô nhiễm nhiều khu vực dân cư, xâm nhập vào thức ăn qua môi trường nước tưới và nước sinh hoạt [35]. Khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác mỏ cũng đồng nghĩa với việc phải đánh đổi, phá hủy nhiều cảnh quan môi trường sinh thái mặt đất như thảm thực vật rừng gắn với phong cảnh thiên nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường sinh thái. Thay đổi địa hình diễn ra nhiều nhất ở khu khai thác lộ thiên. Chất thải rắn không sử dụng được đã tạo nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất đá… Hầu hết ở các mỏ kim loại ở nước ta hiện nay đang áp dụng hệ thống khai thác lộ thiên với công nghệ ô tô - máy xúc.
Đây là loại hình công nghệ cổ điển, giá thành cao. Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải không đảm bảo [61]. Từ khi có chủ trương khai thác quy mô nhỏ, tận thu, hàng loạt các công trường khai thác thủ công đươ ̣c triể n khai như khai thác vàng, đá quý, thiếc, mangan, sắt… Khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ, càng gây ô nhiễm và tàn phá môi trường. Kết quả kiểm tra môi trường năm 2007 của gần 200 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp trên cả nước cho thấy, trên 70% cơ sở có nước thải ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép.
Hơn 80% số cơ sở không thực hiện đúng các nội dung giảm thiểu tác động xấu của môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường. Hầu hết các cơ sở có phát sinh khí thải nhưng không có hệ thống xử lý khí thải hoặc có nhưng không đạt tiêu chuẩn. [69] Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 Trong những năm gần đây, Thái Nguyên đã có những bước phát triển mạnh về kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 9,05%. Đặc biệt là lĩnh vực sản xuất công nghiệp, sự phát triển của các ngành công nghiệp khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, vật liệu xây dựng, sản xuất giấy, chè… Sản xuất công nghiệp đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng trở nên bức xúc [55]. Theo khuyến cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, thực trạng ô nhiễm môi trường xung quanh các khu vực khai thác mỏ kim loại màu (KLM) là khá nghiêm trọng. Vì vậy sức khỏe của người dân sinh sống tại các khu vực lân cận có thể bị ảnh hưởng xấu. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu đầy đủ, hệ thống nào về vấn đề này, đặc biệt là các giải pháp can thiệp giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người dân.
Một đề tài nghiên cứu có tính hệ thống và đầy đủ nhằm đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do khai thác kim loại màu tới sức khoẻ của người dân ở khu vực xung quanh cũng như áp dụng các giải pháp can thiệp nhằm bảo vệ sức khỏe là hết sức cấp thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu áp dụng giải pháp can thiệp giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người dân khu vực khai thác kim loại màu Thái Nguyên” với các mục tiêu sau: 1. Xác định một số chỉ số ô nhiễm môi trường, bệnh tật của người dân xung quanh các cơ sở khai thác kim loại màu ở Thái Nguyên năm 2012. Phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan giữa ô nhiễm môi trường với sức khỏe của người dân xung quanh các cơ sở khai thác kim loại màu.
Áp dụng và đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh Xí nghiệp kẽm chì Làng Hích, Thái Nguyên. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 Chƣơng 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường và sức khỏe 1.
Khái niệm về môi trường Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [51]. Tuỳ theo nội dung nghiên cứu, môi trường sống của con người được phân thành môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội. Khái niệm ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất lý học, hóa học, sinh vật học của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường [66]. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, ở các nước phát triển cũng như ở các nước đang phát triển đều bị nhiễm bẩn môi trường như nhiễm bẩn không khí, nhiễm bẩn các lưu vực nước, nhiễm bẩn đất, nhiễm bẩn do các hoạt động công nghiệp, các hoạt động nông nghiệp, nhiễm bẩn do sinh hoạt.
Ô nhiễm môi trường sản xuất: trong lao động người công nhân thường phải tiếp xúc với các yếu tố nguy hại, đó là vi khí hậu, tiềng ồn và độ rung, bụi, trường điện từ, các chất phóng xạ, các hoá chất độc, các sinh vật có hại,… các yếu tố này nếu quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép sẽ gây tác hại cho cơ thể người lao động, giảm sút sức khoẻ, gây nên bệnh nói chung và bệnh nghề nghiệp. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Môi trường và sức khỏe con người có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu sử dụng khai thác hợp lý nó sẽ đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế, sức khỏe cho con người và ngược lại nếu không biết cách bảo vệ, xây dựng phát triển và sử dụng môi trường sống hợp lý thì môi trường sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ, tạo ra các yếu tố nguy cơ cho sức khoẻ, bệnh tật của con người. Trong tổng số các bệnh tật của con người có tới 25% bệnh tật liên quan đến môi trường, trong đó có tới 80% các loại bệnh gây nên do nước hoặc liên quan đến nước.
Người ta thấy 80% tất cả các bệnh ung thư liên quan đến môi trường (hút thuốc, dinh dưỡng, các yếu tố môi trường khác) [66]. Trong môi trường lao động có nhiều yếu tố sinh học gây hại như các vi trùng, ký sinh trùng, các loại sinh vật phẩm có tính chất kháng nguyên gây nên viêm nhiễm hoặc phản ứng dị ứng, các nấm hoặc vi trùng có khả năng tồn tại cao ở ngoại cảnh như lao, bạch hầu dễ gây bệnh cho những người công nhân vệ sinh, các thầy thuốc [67]. Khái niệm về kim loại màu và kim loại nặng 1. Khái niệm kim loại màu Kim loại màu và hợp kim màu là kim loại mà hầu như không có chất sắt.
Có hai nhóm kim loại: kim loại đen và kim loại màu. Kim loại đen có chứa sắt, thép ví dụ carbon, thép không gỉ (cả hợp kim, hỗn hợp của kim loại) và sắt non. Các kim loại màu không chứa sắt, ví dụ như nhôm, đồng thau, đồng và titan. Ta cũng có thể thấy các hợp kim không chứa sắt ví dụ như như đồng thau là hợp kim của đồng và kẽm.
Kim loại màu được sử dụng vì tính chất mong muốn chẳng hạn như trọng lượng thấp (ví dụ: nhôm), độ dẫn điện cao hơn (ví dụ: đồng), vật liệu không từ tính hoặc chống ăn mòn (ví dụ: kẽm). Một số vật liệu kim loại màu cũng được sử dụng trong các ngành công nghiệp sắt và thép. Ví dụ, bauxite Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 được sử dụng như thông lượng cho lò, trong khi những loại khác như wolframit, pyrolusite và crom được sử dụng trong việc tạo ra các hợp kim màu [94]. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.
Khái niệm kim loại nặng Kim loa ̣i nă ̣ng là thuâ ̣t ngữ dùng để chỉ những kim loa ̣i có tỷ tro ̣ng lớn hơn 5 g/cm3. Chúng bao gồ m: Pb (tỷ trọng 11,34), Cd (tỷ trọng 8,60), Ag (tỷ trọng 10,50), Bi (tỷ trọng 9,80), Co (tỷ trọng 8,90), Cu (tỷ trọng 8,96), Cr (tỷ trọng 7,10), Hg (tỷ trọng 13,52), Mn (tỷ trọng 7,44), Ni (tỷ trọng 8,90), Zn (tỷ trọng 7,10),. Ngoài ra , các á kim như As , Se cũng đươ ̣c xem như các kim loại nặng (Bjerrgaard. Các kim loại nặng là tác nhân ô nhiễm nguy hiểm đối với hệ sinh thái đấ t, chuỗi thức ăn và con người.
Những kim loa ̣i nă ̣ng có tiń h đô ̣c cao nguy hiể m là: thủy ngân (Hg), cadimi (Cd), chì (Pb), niken (Ni). Những kim loa ̣i có đô ̣c tin ́ h ma ̣nh là : asen (As), crom (Cr), mangan (Mn), kẽm (Zn) và thiếc (Sn) (Phạm Việt Hùng và cs, 1999) [28]. Tình hình khai thác mỏ kim loại trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình khai thác mỏ kim loại trên thế giới Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than.
Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước).000 năm trước công nguyên, con người đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng được dùng làm công cụ khai thác các khoáng sản. Sau một thời gian sử dụng hết những đá tốt trên bề mặt trái đất, con người bắt đầu đào bới để tìm những thứ họ cần. Những mỏ đầu tiên chỉ là những hố nông nhưng rồi những người khai mỏ sau buộc phải đào sâu thêm để tìm kiếm.