Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Kết luận và Kiến nghị - Tài liệu tham khảo 5 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm sinh lý của trẻ em THCS (11 – 14 tuổi) Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 – 14 tuổi. Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trƣờng THCS. Lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên và có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em nói riêng và cả đời ngƣời nói chung.
Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch ra chiều hƣớng cho sự trƣởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi. Sự phát triển cơ thể diễn ra mạnh mẽ nhƣng không cân đối. Hoạt động của các tuyến nội tiết rất quan trọng nhƣ tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục và tuyến thƣợng thận, đã tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ: - Chiều cao: Sự phát triển chiều cao diễn ra mạnh mẽ, các em nam lớn nhanh vào khoảng 12 – 14 tuổi, các em nữ vào khoảng 11 – 13 tuổi. Trung bình các em cao 4 – 6 cm/năm, trong đó nữ cao từ 4 – 5 cm/năm, nam cao 5 – 6 cm/năm.
- Trọng lƣợng mỗi năm tăng 2 đến 5 kg. - Hệ xƣơng: Những năm đầu ở lứa tuổi này hệ xƣơng phát triển mạnh nhƣng không đồng đều. Thí dụ xƣơng chi phát triển mạnh nhƣng xƣơng lồng ngực phát triển chậm. Hệ xƣơng của các em chƣa đƣợc cốt hoá hoàn toàn, giữa các đốt còn toàn là “sụn” khiến xƣơng của các em dễ bị cong nếu làm việc quá sức hoặc đi, đứng, ngồi không đúng tƣ thế.
- Tuyến sinh dục phát triển: Các cơ quan sinh dục phát triển và xuất hiện những dấu hiệu phụ của giới tính. Ảnh hƣởng của sự thay đổi sinh lý đến tâm lý lứa tuổi: - Sự phát triển giữa hệ xƣơng và hệ cơ, giữa xƣơng bàn tay và các đốt ngón tay không đồng đều nên làm việc lóng ngóng, vụng về … 6 - Sự phát triển hệ tim mạch không cân đối, thể tích tim tăng nhanh nhƣng đƣờng kính của các mạch máu phát triển chậm gây rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu, thiếu niên thƣờng có cảm giác mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, dễ xúc động, bực tức … Tuổi dậy thì khiến thiếu niên cảm thấy mình đã trở thành ngƣời lớn một cách khách quan và sự thay đổi về mặt sinh lý này cũng góp phần tạo nên nguồn gốc làm nảy sinh ở thiếu niên cảm giác về “tính ngƣời lớn” của mình. Điều này làm các em có những rung cảm mới, nhất là những rung cảm giới tính. Các em thƣờng giữ kẽ, xấu hổ, thẹn thùng và những rung cảm này thƣờng thất thƣờng, lúc thấy sợ, lúc thấy thích … [16].
Các chỉ số hình thái, sinh lý và những nghiên cứu về các chỉ số hình thái, sinh lý trẻ em THCS 1. Sơ lược về các chỉ số hình thái + Chiều cao đứng Chiều cao đứng là khoảng cách từ đỉnh đầu ngƣời đến lòng bàn chân đƣợc đo ở tƣ thế đứng nghiêm. Đơn vị đo thƣờng tính bằng centimet, met, feet hoặc inch. Chiều cao phản ánh sự phát triển chiều dài của xƣơng, biểu hiện tầm vóc của con ngƣời và nó mang tính đặc trƣng cho giới tính, chủng tộc, sự khác biệt về vùng lãnh thổ.
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu về hình thái, sinh lý, sức khỏe… của con ngƣời thì chiều cao là một trong những chỉ số hình thái quan trọng đƣợc quan tâm hàng đầu. Chiều cao phản ánh sự phát triển về thể chất của một cơ thể. Nó đƣợc chi phối bởi nhiều yếu tố nhƣ di truyền, chế độ dinh dƣỡng, rèn luyện cơ thể… [15], [29]. Vì vậy, các nhà y học dựa vào chiều cao để đánh giá sức lớn của trẻ em, so sánh chiều cao với các chỉ số hình thái khác để đề ra phƣơng pháp chăm sóc trẻ em tốt nhất nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối ở trẻ em.
7 + Cân nặng Cũng giống nhƣ chiều cao, cân nặng là số đo thƣờng đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu cơ bản về hình thái ngƣời, là tiêu chí để đánh giá tình trạng thể lực. Cân nặng là số đo khối lƣợng cơ thể khi không có gì trên ngƣời (trên thực tế khi đo có thể mặc quần áo nhƣng không đƣợc mang thêm bất kì vật dụng nào khác). Cân nặng thƣờng thay đổi trong ngày, buổi sáng thƣờng nhẹ hơn buổi chiều, khi lao động nặng nhọc thƣờng giảm nhiều do cơ thể ra nhiều mồ hôi. Do đó, để đo cân nặng chính xác thƣờng đo buổi sáng, sau khi đại tiện và chƣa ăn uống gì.
Cân nặng của một ngƣời gồm 2 phần: Phần cố định: Chiếm 1/3 tổng số cân nặng bao gồm xƣơng, da, nội tạng và thần kinh. Phần thay đổi chiếm 2/3 số cân nặng trong đó bao gồm 3/4 là trọng lƣợng cơ và 1/4 là mỡ và nƣớc. + Vòng ngực Vòng ngực cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng. Thể lực con ngƣời đƣợc phản ánh qua số đo vòng ngực trung bình (VNTB).
VNTB lớn thì thể lực tốt do nó liên quan đến khả năng hô hấp của con ngƣời. VNTB là trung bình cộng của vòng ngực hít vào hết sức và vòng ngực thở ra hết sức [15], [29]. + Chỉ số BMI thể hiện mối tƣơng quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể, từ đó cho phép đánh giá mức độ dinh dƣỡng của cơ thể. Thƣờng đƣợc dùng để đánh giá mức độ béo, gầy của một ngƣời [14].
Sơ lược về các chỉ số sinh lý + Huyết áp: Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch trong khi vận chuyển để đƣa máu đến nuôi dƣỡng các mô trong cơ thể [15]. Huyết áp thể hiện thông qua hai chỉ số: - Huyết áp tối đa đo ở giai đoạn tâm thu. 8 - Huyết áp tối thiểu đo ở giai đoạn tâm trƣơng. + Nhịp tim: Là số chu kì tim đƣợc thực hiện trong một đơn vị thời gian (phút).
Là một chỉ tiêu sinh lý quan trọng, thể hiện cƣờng độ trao đổi chất của cơ thể [15]. Nhịp tim bình thƣờng tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe, thời gian trong ngày. Ở trẻ từ 11 – 20 tuổi, nhịp tim trung bình 60 – 100 nhịp/ phút, tuy nhiên cũng có một số trƣờng hợp nhịp tim nhanh hơn hoặc chậm hơn một cách tự nhiên. Các nghiên cứu về các chỉ số hình thái, sinh lý trên thế giới.
Các chỉ số sinh học đầu tiên đƣợc nghiên cứu là các chỉ số hình thái - thể lực. Ludman, Nole và Wolanski là những nhà nhân trắc học đầu tiên đƣa ra những số liệu chứng minh có mối quan hệ giữa chiều cao với các yếu tố môi trƣờng tự nhiên và xã hội [11]. Từ thế kỉ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [40]. Nhƣng mãi đến những năm đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu hình thái - sinh lý trở thành một ngành khoa học thực sự và đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm.
Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc kích thƣớc của cơ thể. Các phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc của Rudolf Martin cho đến nay vẫn đƣợc áp dụng [19]. Năm 1937, Gaspar nghiên cứu về sự phát triển thể lực của học sinh thành phố Stuttgart, Đức. Kết quả mà công trình nghiên cứu này đạt đƣợc là: chỉ số phát triển thể lực của học sinh bị ảnh hƣởng rõ rệt qua đời sống xã hội, chiến tranh, làm cho chiều cao và cân nặng đều giảm từ 4 – 6 cm và 1 – 1,5 kg [40].
Năm 1962, cuốn “Học thuyết và sự phát triển của cơ thể ngƣời” của Baskirop P. đã đƣa ra quy luật phát triển cơ thể ngƣời dƣới ảnh hƣởng của 9 điều kiện sống [41]. Từ thế kỷ XX, đã có nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ … nghiên cứu về thể lực. Kết quả nghiên cứu từ các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhất vào tuổi dậy thì do ảnh hƣởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục.
Tốc độ và thời gian tăng trƣởng phụ thuộc vào yếu tố xã hội và môi trƣờng sống [3]. Các nghiên cứu về các chỉ số hình thái, sinh lý ở Việt Nam. Ở Việt Nam, nghiên cứu hình thái thể lực đã đƣợc tiến hành từ những năm 30 của thế kỉ XX, tại ban nghiên cứu nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông Bác Cổ, sau đó là tại trƣờng Đại học Y khoa Đông Dƣơng (1936 – 1944) đã xuất hiện một số công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của ngƣời Đông Dƣơng” của Huard P.
và Đỗ Xuân Hợp đƣợc xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái ngƣời Việt Nam. Tuy số lƣợng chƣa nhiều nhƣng tác phẩm này đã nêu đƣợc các đặc điểm nhân trắc của ngƣời Việt Nam đƣơng thời [25]. Sau năm 1954, đã có nhiều công trình điều tra về con ngƣời ở Việt Nam đƣợc thực hiện trên nhiều phƣơng diện. Có nhiều tác giả nổi bật, có thể kể đến nhƣ Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lệ, Chu Văn Tƣờng, Trần Tích Cảnh …đã tập trung nghiên cứu các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của ngƣời Việt Nam [11].
Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên và xuất bản cuốn “Hằng số sinh học của ngƣời Việt Nam”, đây là công trình tƣơng đối hoàn chỉnh về các thông số sinh học về sinh lý, hoá sinh của ngƣời Việt Nam ở các lứa tuổi [30]. Năm 1991, Đào Duy Khuê nghiên cứu 36 chỉ tiêu hình thái, thể lực trên 1478 học sinh từ 6 – 17 tuổi thuộc hai trƣờng THCS và THPT thị xã Hà Đông. Ông cho rằng hầu hết các thông số về hình thái đều tăng dần theo lứa 10 tuổi nhƣng nhịp tim không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam và nữ có sự khác nhau [10]. Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Điệp [3] đã nghiên cứu trên học sinh một số trƣờng THCS ở Hà Nội và rút ra kết luận chiều cao phát triển mạnh nhất đối với nữ là 11 đến 12 tuổi, đối với nam là 13 đến 15 tuổi; cân nặng phát triển mạnh nhất ở nữ lúc 12 – 13 tuổi và ở nam lúc 14 – 15 tuổi.