Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trương Tỷ có tiêu đề "Thực trạng mắc bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ 1-5 tuổi; kiến thức, thực hành phòng chống bệnh của người chăm sóc trẻ và hiệu quả can thiệp tại tỉnh Hậu Giang (2013 – 2015)", được thực hiện tại Học viện Quân y (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Quốc phòng) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đào Xuân Vinh, thuộc chuyên ngành Quản lý y tế (mã số: 9 72 08 01), hoàn thành năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bệnh Tay Chân Miệng (BTCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do các vi rút thuộc nhóm Enterovirus (họ Picornaviridae) gây ra, phổ biến nhất là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71). Mặc dù đa số các trường hợp diễn biến lành tính và tự khỏi trong vòng 7–10 ngày, một tỷ lệ bệnh nhân có thể phát triển các biến chứng thần kinh và hô hấp - tuần hoàn nghiêm trọng như viêm não - màng não, phù phổi cấp, viêm cơ tim dẫn đến tử vong.

Tại Việt Nam, trước năm 2008, bệnh ghi nhận dưới 3.000 ca/năm. Từ năm 2011, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc với 112.370 ca mắc tại 63 tỉnh/thành và 169 ca tử vong. Trong đó, khu vực phía Nam là trọng điểm, chiếm tới 60% tổng số ca mắc và 85,8% số ca tử vong cả nước. Bệnh tập trung chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt nhóm dưới 3 tuổi chiếm gần 3/4 số ca tử vong. Do trẻ ở độ tuổi này chưa thể tự thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, sự lây truyền mầm bệnh phụ thuộc trực tiếp vào kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh của người chăm sóc trẻ (NTTCST).

Tại tỉnh Hậu Giang, số ca mắc BTCM đã gia tăng đột biến từ 7 ca (năm 2009) lên 1.573 ca (năm 2011), đưa địa phương này vào nhóm 24 tỉnh, thành phố có tỷ lệ mắc cao nhất cả nước (trên 200 ca/100.000 dân). Trước thời điểm nghiên cứu, tại Hậu Giang chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về thực trạng mắc bệnh, kiến thức, thực hành phòng bệnh của người chăm sóc trẻ cũng như hiệu quả của các mô hình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng mắc bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ 1 – 5 tuổi và kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại tỉnh Hậu Giang năm 2013.
  2. Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông nâng cao kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại hai trường mầm non của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (2014 – 2015).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em từ 1 đến 5 tuổi và người trực tiếp chăm sóc trẻ (cha mẹ, ông bà, người trông trẻ, giáo viên mầm non).
  • Phạm vi không gian:
    • Giai đoạn mô tả cắt ngang (Mục tiêu 1): Thực hiện tại 3 địa bàn có số mắc cao của tỉnh Hậu Giang gồm huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy và thành phố Vị Thanh.
    • Giai đoạn can thiệp (Mục tiêu 2): Thực hiện tại 2 trường mầm non thuộc 2 phường của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu và triển khai can thiệp từ năm 2013 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ học, căn nguyên vi sinh học, biểu hiện lâm sàng và hành vi phòng bệnh của cộng đồng:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Căn nguyên vi sinh và dịch tễ học phân tử: Solomon, T. và cộng sự (2010) phân loại các chủng Enterovirus họ Picornaviridae thành 4 loài A, B, C, D; trong đó EV71 thuộc loài A với các phân nhóm gen A, B1–B5, C1–C5. Brown và cộng sự mô tả dịch tễ học phân tử của EV71 phân lập tại Hoa Kỳ và 5 quốc gia. Chang L. và cộng sự (2004) tại Đài Loan theo dõi 94 hộ gia đình (433 thành viên) có người nhiễm EV71, ghi nhận tỷ lệ lây nhiễm chung trong gia đình là 52%, trong đó tỷ lệ lây nhiễm ở anh chị em ruột là 84%, anh chị em họ 83%, bố mẹ 41%, ông bà 28% và cô/chú/dì 26%. Chang L.Y. và cộng sự (2002), Lee và cộng sự (2012) chỉ ra tỷ lệ người mang vi rút không triệu chứng chiếm từ 29% đến hơn 50% trong các vụ dịch.
  • Biểu hiện lâm sàng và biến chứng: Các vụ dịch lớn tại Bulgaria (1975, 44 ca tử vong), Hungary (1978), Malaysia (1997, 31 trẻ tử vong tại Sarawak), Đài Loan (1998, 90.000 ca mắc, 78 ca tử vong) và Trung Quốc (2008 tại Phụ Dương, An Huy với hơn 6.000 ca) đã làm rõ các biến chứng viêm thân não, viêm màng não vô khuẩn, suy tuần hoàn và phù phổi thần kinh do EV71.
  • Kiến thức, thái độ và thực hành (KAP): Các nghiên cứu tại Thái Lan của Ruttiya Charoenchokpanit và Tepanata Pumpaibool (2013) tại Bangkok (50,4% người chăm sóc có kiến thức thấp, 60% có hành vi phòng ngừa tốt), Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự (2010) tại Khon Kaen (chỉ 3,5% người chăm sóc rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh), Chadaporn Inta và cộng sự (2017) tại Chiang Rai. Tại Malaysia, nghiên cứu của Siti Aida Shaqirah Mahadzar và cộng sự (2018), Mohammad Nasir Abdullag và cộng sự (2019), Nik Nur Hidayah Mansur và Azwandi Ahmade (2020) cho thấy nhận thức và thực hành phòng bệnh của phụ huynh và giáo viên mầm non vẫn còn khoảng trống lớn, đặc biệt là thói quen rửa tay và không dùng chung dụng cụ ăn uống. Tại Trung Quốc, WangLiHua và cộng sự (2010), Liao và cộng sự (2017) đánh giá hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe giúp nâng tỷ lệ hiểu biết đúng từ 57,76% lên 84,3%. Tại Ấn Độ, Sherin Nithya Suria Prakash (2020) ghi nhận 50% bà mẹ thiếu kiến thức về BTCM.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Dịch tễ và lâm sàng: Báo cáo của Cục Y tế dự phòng và Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011–2015 cho thấy EV71 chiếm 61,1% đến 67,6% các ca bệnh phẩm dương tính trong giai đoạn 2011–2013 và liên quan đến 52%–100% các ca tử vong. Các công trình của Hoàng Quốc Cường và cộng sự (2014) tại Đồng Tháp, Nguyễn Thành Đông (2012), Trần Như Dương và cộng sự (2014) ghi nhận tỷ lệ nhiễm vi rút không triệu chứng trong ổ dịch là 48,5% (trong hộ gia đình là 45,9%, trường học là 64,3%).
  • Nghiên cứu KAP và can thiệp cộng đồng: Võ Thị Tiến và Tạ Văn Trầm (2012) tại Tiền Giang, Hồ Thị Thiên Ngân và cộng sự (2013, 2014) tại 15 tỉnh phía Nam, Phan Trọng Lân và cộng sự (2014) tại Gia Lâm (Hà Nội), Lê Quang Minh và Nguyễn Thanh Dương (2015), Lê Thị Lan Hương và cộng sự (2013) tại Hà Nam, Trần Đỗ Hùng và Dương Thị Thuỳ Trang (2013) tại Cần Thơ, Phạm Thanh Bình và Vũ Thị Minh Hạnh (2012, 2013), Huỳnh Kiều Chinh và Nguyễn Đỗ Nguyên (2013) tại Tây Ninh, Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2014), Hoàng Quốc Cường và Nguyễn Ngọc Anh Tuấn (2019) tại Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Nga và cộng sự (2015). Các nghiên cứu này đều chỉ ra tỷ lệ thực hành vệ sinh đúng (rửa tay bằng xà phòng, khử khuẩn đồ chơi) của người chăm sóc trẻ ở mức thấp (từ 3,3% đến 45,2%).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án của Trương Tỷ tập trung giải quyết khoảng trống dữ liệu thực địa tại tỉnh Hậu Giang – một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ mắc cao nhưng chưa được khảo sát có hệ thống. Luận án kết hợp đồng thời việc phân tích dữ liệu dịch tễ học diện rộng với khảo sát KAP trên 1.573 đối tượng và thử nghiệm giải pháp can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) tập trung vào mạng lưới trường mầm non.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết dịch tễ học bệnh truyền nhiễm về nguồn truyền nhiễm, đường lây truyền và tính cảm nhiễm của khối cảm thụ:

  • Mầm bệnh: Nhóm Enterovirus (EV71, CA16) đào thải qua dịch tiết hầu họng, phân và dịch nốt phỏng (thời gian bài xuất phân có thể kéo dài tới 11 tuần).
  • Đường truyền nhiễm: Đường tiêu hóa (phân - miệng) và tiếp xúc trực tiếp/gián tiếp qua bàn tay, đồ chơi, vật dụng nhiễm bẩn.
  • Mô hình thay đổi hành vi: Can thiệp TT-GDSK tác động trực tiếp vào chu trình nhận thức $\rightarrow$ chuyển đổi thái độ $\rightarrow$ hình thành thực hành vệ sinh phòng bệnh chuẩn mực ở người trực tiếp chăm sóc trẻ, từ đó cắt đứt mắt xích lây truyền của vi rút trong môi trường gia đình và trường mầm non.
Phân loại Serotype Enterovirus theo loài (Species)
Loài (Species) Các Typ huyết thanh (Serotype)
Enterovirus A Coxsackievirus A: 2–8, 10, 12, 14, 16; Enterovirus: 71, 76, 89–92
Enterovirus B Coxsackievirus B: 1–6; Coxsackievirus A: 9; Echovirus: 1–9, 11–21, 24–27, 29–34; Enterovirus: 69, 73–75, 77–88, 93, 97–98, 101, 106–107
Enterovirus C Poliovirus: 1–3; Coxsackievirus A: 1, 11, 13, 15, 17–22, 24; Enterovirus: 95–96, 99, 102, 104–105, 109
Enterovirus D Enterovirus: 68, 70, 94

(Nguồn: Theo Solomon, T., và cộng sự, 2010)

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học kết hợp hai giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1 (Mục tiêu 1): Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích nhằm xác định thực trạng mắc bệnh ở trẻ 1–5 tuổi và thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc trẻ tại 3 huyện/thành phố của tỉnh Hậu Giang năm 2013.
  2. Giai đoạn 2 (Mục tiêu 2): Thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có so sánh trước – sau can thiệp nhằm đánh giá hiệu quả giải pháp TT-GDSK tại 2 trường mầm non thuộc thành phố Vị Thanh trong giai đoạn 2014–2015.

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

  • Mẫu điều tra cắt ngang (Mục tiêu 1): Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn, khảo sát trên 1.573 trẻ từ 1–5 tuổi và người chăm sóc chính tại huyện Phụng Hiệp, huyện Vị Thủy và thành phố Vị Thanh.
  • Mẫu can thiệp (Mục tiêu 2): Toàn bộ người chăm sóc trẻ và giáo viên tại 2 trường mầm non được chọn can thiệp tại thành phố Vị Thanh.

Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

  • Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa dành cho người chăm sóc trẻ (đánh giá nhân khẩu học, kiến thức về nguyên nhân, đường lây, triệu chứng, dấu hiệu nặng, thái độ và thực hành vệ sinh cá nhân, khử khuẩn).
  • Bảng kiểm quan sát thực hành vệ sinh, rửa tay và khử khuẩn bề mặt, đồ chơi tại hộ gia đình và trường mầm non.
  • Hồi cứu số liệu báo cáo dịch tễ học tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hậu Giang và các Trung tâm Y tế huyện/thành phố giai đoạn 2009–2013.

Xử lý và phân tích số liệu

  • Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm chuyên dụng, phân tích các chỉ số thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, tỷ lệ mắc/100.000 dân).
  • Sử dụng các kiểm định thống kê y sinh học để so sánh tỷ lệ trước và sau can thiệp, tính Chỉ số hiệu quả (CSHQ): $$\text{CSHQ (%)} = \frac{p_2 - p_1}{p_1} \times 100$$ (Trong đó: $p_1$ là tỷ lệ trước can thiệp, $p_2$ là tỷ lệ sau can thiệp).
  • Khống chế sai số qua việc tập huấn điều tra viên, chuẩn hóa công cụ và giám sát độc lập. Nghiên cứu tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương 1 tổng hợp cơ sở lý luận y học và dịch tễ học về BTCM. Tác nhân gây bệnh thuộc họ Picornaviridae, cấu trúc hạt hình cầu không vỏ bọc, đường kính 27–30 nm chứa lõi RNA. Vi rút bị bất hoạt bởi nhiệt độ, dung dịch khử khuẩn chứa clo dư tự do 0,3–0,5 ppm, formaldehyde 0,3%, HCl 0,1N hoặc Cloramin B 2%.

Về cơ chế lan truyền trong gia đình, luận án trích dẫn số liệu dịch tễ kinh điển của Chang L. và cộng sự (2004):

Tỷ lệ lây nhiễm EV71 trong các thành viên gia đình
Đối tượng lây nhiễm Tỷ lệ (%) Đối tượng lây nhiễm Tỷ lệ (%)
Anh chị em ruột 84,0 Ông bà 28,0
Anh chị em họ 83,0 Cô, chú (cậu, dì) 26,0
Bố mẹ 41,0 Tỷ lệ nhiễm chung 52,0

(Nguồn: Theo Chang L. và cộng sự, 2004)

Chương này cũng tổng kết diễn biến dịch tễ tại Việt Nam giai đoạn 2011–2015, khẳng định khu vực phía Nam luôn là điểm nóng về số ca mắc và tử vong do tỷ lệ lưu hành của phân nhóm EV71 độc lực cao:

Phân bố phần trăm mắc và tử vong do BTCM theo vùng tại Việt Nam (2011–2015)
Vùng / Miền 2011 (M%) 2011 (C%) 2012 (M%) 2012 (C%) 2013 (M%) 2013 (C%) 2014 (M%) 2014 (C%) 2015 (M%) 2015 (C%)
Miền Nam 62,1 85,3 55,7 91,1 58,2 91,3 73,0 100,0 71,0 100,0
Miền Bắc 18,1 1,8 28,3 0,0 28,7 8,7 13,8 0,0 16,7 0,0
Miền Trung 15,1 11,2 11,4 6,7 9,6 0,0 9,8 0,0 10,1 0,0
Tây Nguyên 4,6 1,8 4,6 2,2 3,5 0,0 3,4 0,0 2,2 0,0
Cả nước (Số ca) 113.000 170 157.000 45 80.000 23 76.000 8 55.000 5

(Ghi chú: M: Mắc; C: Chết; Nguồn: Theo Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, 2016)

Tại Hậu Giang, diễn biến ca mắc qua các năm cho thấy sự phân bố không đều giữa các huyện:

Tình hình bệnh Tay Chân Miệng tỉnh Hậu Giang (2009–2012)
Địa phương Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Tổng số
Huyện Vị Thủy 1 3 545 497 1.046
Huyện Long Mỹ 2 6 432 230 670
Huyện Phụng Hiệp 1 8 305 335 649
Thành phố Vị Thanh 0 2 261 334 597
Huyện Châu Thành A 1 2 98 117 218
Huyện Châu Thành 0 1 100 116 217
Thị xã Ngã Bảy 2 3 88 83 176
Toàn tỉnh 7 25 1.829 1.712 3.573

(Nguồn: Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hậu Giang)

Chương 1 cũng tổng quan các văn bản quy phạm pháp luật và giải pháp y tế công cộng: Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 (xếp BTCM vào bệnh truyền nhiễm nhóm B); Công điện số 1439/CĐ-TTg ngày 18/8/2011 và Công điện số 1344/CĐ-TTg ngày 06/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục trong trường học.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày cấu trúc phương pháp luận của đề tài:

  • Địa bàn nghiên cứu: Phụng Hiệp, Vị Thủy và TP. Vị Thanh (giai đoạn mô tả); 2 trường mầm non tại 2 phường thuộc TP. Vị Thanh (giai đoạn can thiệp).
  • Phương pháp can thiệp: Xây dựng nội dung TT-GDSK đa dạng gồm: tập huấn cho giáo viên và người chăm sóc trẻ; phát tờ rơi, áp phích; truyền thông trực tiếp qua các buổi họp phụ huynh; hướng dẫn thực hành 6 bước rửa tay bằng xà phòng; hướng dẫn kỹ thuật khử khuẩn đồ chơi và sàn nhà bằng Cloramin B; phát thanh định kỳ trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở.
  • Giám sát và kiểm soát chất lượng: Thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ, phiếu giám sát độc lập của nghiên cứu viên và cộng tác viên y tế; nêu rõ các biện pháp hạn chế sai số lựa chọn và sai số thông tin, đảm bảo tính khách quan và đạo đức nghiên cứu.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng chi tiết theo hai mục tiêu:

1. Thực trạng mắc bệnh và KAP tại Hậu Giang năm 2013 (Mẫu 1.573 trẻ)

  • Đặc điểm dịch tễ: Số ca mắc phân bố tập trung ở nhóm tuổi từ 1 đến 3 tuổi; bệnh xuất hiện quanh năm nhưng có 2 đỉnh tăng cao vào các tháng 3–5 và tháng 9–12. Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân năm 2013 cao nhất tại TP. Vị Thanh (159 ca/100.000 dân), tiếp theo là Vị Thủy (142 ca/100.000 dân), Châu Thành (88 ca/100.000 dân) và Phụng Hiệp (59 ca/100.000 dân).
  • Kiến thức của người chăm sóc trẻ: Tỷ lệ đối tượng từng nghe/biết về bệnh ở mức cao, tuy nhiên kiến thức chuyên sâu còn hạn chế. Đa số nhận biết được các triệu chứng ban đầu như sốt, loét miệng, phỏng nước lòng bàn tay/bàn chân, nhưng tỷ lệ nhận biết các dấu hiệu chuyển nặng (giật mình chới với, run chi, sốt cao khó hạ, thở nhanh) còn thấp. Nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu là truyền hình và loa phát thanh xã/phường.
  • Thái độ và thực hành: Đa số người chăm sóc thể hiện sự lo lắng khi trẻ có nguy cơ mắc bệnh và ủng hộ các biện pháp vệ sinh phòng ngừa. Tuy nhiên, thực hành thực tế chưa tương xứng với kiến thức: tỷ lệ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn, sau khi thay tã lót và thói quen khử khuẩn đồ chơi định kỳ bằng xà phòng/hóa chất khử khuẩn đạt tỷ lệ thấp.

2. Hiệu quả của giải pháp can thiệp TT-GDSK (2014–2015)

So sánh các chỉ số trước và sau can thiệp tại 2 trường mầm non can thiệp cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê:

  • Tỷ lệ người chăm sóc biết nguyên nhân gây bệnh do vi rút, biết đường lây truyền qua đường tiêu hóa và tiếp xúc tăng rõ rệt.
  • Tỷ lệ nhận biết đầy đủ các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ nhập viện ngay tăng cao sau can thiệp.
  • Tỷ lệ thực hành đúng quy trình rửa tay bằng xà phòng và vệ sinh khử khuẩn đồ chơi, nền nhà định kỳ tăng lên rõ rệt.
  • Tỷ lệ mắc BTCM ở trẻ tại các cơ sở mầm non được can thiệp giảm so với giai đoạn trước can thiệp.

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Tác giả so sánh, đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công bố khoa học trong và ngoài nước:

  • Về thực trạng mắc bệnh: Kết quả tại Hậu Giang tương đồng với các nghiên cứu của Viện Pasteur TP.HCM, Hoàng Quốc Cường (Đồng Tháp), Phan Trọng Lân (Hà Nội), khẳng định tính chất lưu hành đặc thù của BTCM ở khu vực phía Nam với đỉnh dịch vào mùa mưa và nhóm nguy cơ cao nhất là trẻ dưới 3 tuổi.
  • Về kiến thức, thái độ và thực hành: Luận án lý giải khoảng cách giữa tỷ lệ nhận thức và thực hành thực tế của người chăm sóc tại Hậu Giang. Tương tự như các phát hiện của Ruttiya Charoenchokpanit (Thái Lan), Lê Quang Minh (Việt Nam), mặc dù người dân biết về bệnh nhưng thói quen rửa tay bằng xà phòng và vệ sinh đồ chơi chưa trở thành hành vi thường quy do điều kiện sinh hoạt gia đình và sự chủ quan khi trẻ chưa có biểu hiện nặng.
  • Về hiệu quả và khả năng duy trì can thiệp: Phân tích mô hình can thiệp truyền thông lồng ghép trong trường mầm non chứng minh đây là kênh can thiệp chi phí thấp, hiệu quả cao, dễ nhân rộng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Trạm Y tế xã/phường và Ban giám hiệu nhà trường là yếu tố quyết định tính bền vững của các biện pháp kiểm soát bệnh.
  • Ưu điểm và hạn chế của đề tài: Tác giả phân tích các ưu điểm về quy mô mẫu đại diện, phương pháp can thiệp thực chứng, đồng thời chỉ ra một số hạn chế về phạm vi can thiệp và nguồn lực giám sát dài hạn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực địa đầy đủ và có hệ thống đầu tiên về bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ em lứa tuổi 1–5 tuổi tại tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2013–2015.
  • Làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học, mức độ hiểu biết của người chăm sóc với nguy cơ mắc bệnh và thực hành phòng chống BTCM ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đóng góp về mặt thực tiễn và quản lý y tế

  • Xây dựng, chuẩn hóa và đánh giá thành công mô hình can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe phòng chống BTCM tại các trường mầm non.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp ngành Y tế và ngành Giáo dục tỉnh Hậu Giang xây dựng các hướng dẫn chuyên môn, hoàn thiện kế hoạch phối hợp liên ngành trong phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm học đường.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Duy trì và nhân rộng mô hình truyền thông - giáo dục sức khỏe phòng chống BTCM tại tất cả các trường mầm non, mẫu giáo và nhóm trẻ gia đình trên địa bàn toàn tỉnh.
  2. Tăng cường tập huấn kỹ năng nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo nặng (giật mình, sốt cao không đáp ứng thuốc hạ sốt, thở bất thường) cho giáo viên mầm non và phụ huynh.
  3. Đảm bảo cung ứng đầy đủ xà phòng, dung dịch khử trùng Cloramin B và trang thiết bị vệ sinh tại các cơ sở giáo dục mầm non và trạm y tế cơ sở.
  4. Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông đa phương tiện, đặc biệt là hệ thống truyền thanh cơ sở và các buổi sinh hoạt phụ huynh định kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu mô tả cắt ngang ban đầu chỉ thực hiện tại 3 địa bàn (Phụng Hiệp, Vị Thủy, TP. Vị Thanh), chưa bao phủ toàn bộ 100% các huyện trong tỉnh Hậu Giang.
  • Mô hình can thiệp mới chỉ thử nghiệm tại 2 trường mầm non thuộc khu vực đô thị (thành phố Vị Thanh), chưa đánh giá trên diện rộng tại các điểm trường nông thôn hoặc nhóm trẻ tư thục tự phát.
  • Đề tài chưa tiến hành phân lập vi rút chuyên sâu trên toàn bộ các ca bệnh trong nghiên cứu can thiệp do giới hạn về nguồn lực xét nghiệm sinh học phân tử tại địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Triển khai đánh giá hiệu quả can thiệp trên quy mô toàn tỉnh, chú trọng đối tượng người chăm sóc trẻ tại các hộ gia đình vùng sâu, vùng xa.
  • Nghiên cứu dài hạn về sự duy trì bền vững của hành vi vệ sinh sau khi kết thúc các đợt can thiệp tích cực.
  • Kết hợp giám sát dịch tễ học phân tử để theo dõi sự biến đổi di truyền của các chủng Enterovirus lưu hành tại khu vực Tây Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý y tế, Y tế công cộng, Y học dự phòng và Nhi khoa khi thiết kế các nghiên cứu mô tả dịch tễ và nghiên cứu can thiệp cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng tại các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC), Trung tâm Y tế huyện và Trạm Y tế xã/phường trong việc xây dựng kế hoạch kiểm soát dịch bệnh truyền nhiễm lây qua đường tiêu hóa.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên mầm non trong việc tổ chức quy trình vệ sinh khử khuẩn trường lớp, phòng ngừa bùng phát dịch BTCM trong môi trường học đường.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác nhân vi sinh vật chính gây bệnh Tay Chân Miệng là gì và chủng nào thường gây biến chứng nặng?

Bệnh do nhóm vi rút đường ruột Enterovirus thuộc họ Picornaviridae gây ra, trong đó hai tác nhân thường gặp nhất là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71). Chủng EV71 là tác nhân chính gây ra các đợt bùng phát dịch lớn và các biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp nghiêm trọng như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong.

2. Tỷ lệ phân bố số ca mắc và tử vong do BTCM tại miền Nam so với cả nước giai đoạn 2011–2015 như thế nào?

Theo số liệu của Cục Y tế Dự phòng trong luận án, miền Nam luôn chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước trong giai đoạn 2011–2015, chiếm từ 55,7% đến 73,0% tổng số ca mắc và từ 85,3% đến 100% tổng số ca tử vong do BTCM trên phạm vi toàn quốc.

3. Theo nghiên cứu của Chang L. và cộng sự (2004) được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ lây nhiễm EV71 trong hộ gia đình là bao nhiêu?

Nghiên cứu dọc trên 94 hộ gia đình có người nhiễm EV71 ghi nhận tỷ lệ lây nhiễm chung là 52%. Trong đó, tỷ lệ lây nhiễm ở anh chị em ruột là 84%, anh chị em họ 83%, bố mẹ 41%, ông bà 28% và cô/chú/dì là 26%.

4. Đề tài luận án của NCS Trương Tỷ thực hiện những mục tiêu cụ thể nào?

Luận án thực hiện 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng mắc bệnh Tay Chân Miệng ở trẻ 1–5 tuổi và kiến thức, thực hành về phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại tỉnh Hậu Giang năm 2013; (2) Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông nâng cao kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh của người chăm sóc trẻ tại hai trường mầm non của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2014–2015.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Trương Tỷ là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý y tế, phản ánh thực trạng dịch tễ học bệnh Tay Chân Miệng và khoảng trống trong kiến thức, thực hành phòng bệnh của người chăm sóc trẻ tại tỉnh Hậu Giang năm 2013. Luận án đã chứng minh giải pháp truyền thông - giáo dục sức khỏe lồng ghép tại các trường mầm non mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh khử khuẩn của người chăm sóc trẻ, góp phần hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh tại cơ sở. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý, kiểm soát và dự phòng bệnh Tay Chân Miệng tại tỉnh Hậu Giang và các địa phương có điều kiện tương đồng.