Kiến Thức và Thực Hành Phòng Nhiễm Virus Viêm Gan B Ở Bà Mẹ Có Con Dưới 1 Tuổi Tại Thị Trấn Mỹ Thọ

Nghiên cứu về kiến thức thực hành và yếu tố liên quan đến phòng nhiễm virus viêm gan B ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại thị trấn Mỹ Thọ.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2015

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Viêm Gan B ở Bà Mẹ và Con Dưới 1 Tuổi

Viêm gan B là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng trên toàn cầu và tại Việt Nam. Ước tính có khoảng 2 tỷ người trên thế giới nhiễm Virus Viêm Gan B (HBV), trong đó hơn 350 triệu người mang mầm bệnh mãn tính. Mỗi năm, có hơn một triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến HBV. Việt Nam được xếp vào vùng lưu hành cao của HBV, với tỷ lệ nhiễm trung bình khoảng 10% đến 20%. Đặc biệt, tình trạng Lây Truyền Viêm Gan B Từ Mẹ Sang Con là một mối lo ngại lớn, có thể dẫn đến nhiễm HBV mãn tính ở trẻ sơ sinh. Điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh gan nghiêm trọng như xơ gan và ung thư gan sau này. Vì vậy, việc tìm hiểu Kiến Thức Về Viêm Gan B và thực hành các biện pháp phòng ngừa là vô cùng quan trọng.

1.1. Khái niệm về Virus Viêm Gan B HBV

Virus Viêm Gan B (HBV) thuộc họ Hepadnaviridae, có nhân là DNA. Hạt virus HBV, còn gọi là hạt Dane, có hình cầu, đường kính 42nm. Virus có 3 lớp, lớp bao ngoài dày 7nm, vỏ capsit hình hộp đường kính 27-28nm và lõi chứa bộ gen của virus. Việc hiểu rõ cấu trúc của HBV giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về cơ chế lây nhiễm và phát triển của bệnh. HBsAg là một kháng nguyên bề mặt của HBV. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tỉ lệ mang HBsAg ở Việt Nam ở mức cao. Theo Blumberg (1963) đã tìm ra trong máu của người Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên kháng nguyên Australia.

1.2. Tình hình lây nhiễm viêm gan B trên thế giới và Việt Nam

Theo ước tính của WHO năm 2013, khoảng 2 tỷ người trên thế giới đang mang virus VGB. Châu Á và châu Phi có tỷ lệ mang virus VGB cao nhất, chiếm khoảng 20% dân số. Riêng tại Việt Nam, ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm HBV. Tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới. Các nghiên cứu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mang HBsAg lần lượt là 11.3% và 10%. Điều này cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có gánh nặng bệnh tật do HBV cao. Các kết quả nghiên cứu của Đào Đình Đức và cộng sự cho thấy tỷ lệ mang HBsAg ở thành phố Hồ Chí Minh là 10%, Hà Nội là 17%.

II. Các Yếu Tố Nguy Cơ Lây Nhiễm Viêm Gan B từ Mẹ Sang Con

Tỷ lệ Lây Truyền Viêm Gan B Từ Mẹ Sang Con trong thời kỳ chu sinh (lây truyền dọc) có sự khác biệt lớn giữa các khu vực trên thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ lây truyền dọc thấp nhất là 8,3% và cao nhất là 73%. Tại Việt Nam, tỷ lệ này cũng biến động, với các nghiên cứu ghi nhận từ 17,81% đến 55,2%. Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm viêm gan B bao gồm tình trạng tải lượng virus cao ở mẹ, không được điều trị dự phòng, sinh con qua đường âm đạo. Do đó, việc xác định các yếu tố nguy cơ và thực hiện các biện pháp can thiệp kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cho trẻ.

2.1. Phương thức lây truyền virus viêm gan B

Virus viêm gan B lây truyền qua 3 con đường chính: đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con. Lây truyền qua đường máu xảy ra khi tiếp xúc với máu hoặc các chế phẩm máu bị nhiễm virus. Lây truyền qua đường tình dục xảy ra khi quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm bệnh. Lây truyền từ mẹ sang con xảy ra trong quá trình mang thai, sinh nở hoặc cho con bú. Theo nghiên cứu của Trần Thị Lợi tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ lây là 40%; Nguyễn Tuyết Nga (Hải Phòng): 17,81% [23]; Chu Thị Thu Hà (Hà Nội):55,2%.

2.2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con

Các yếu tố nguy cơ Lây Truyền Viêm Gan B Từ Mẹ Sang Con bao gồm: mẹ có tải lượng virus cao, mẹ không được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus, sinh con qua đường âm đạo (đặc biệt nếu có can thiệp sản khoa), không tiêm phòng vaccine và huyết thanh miễn dịch cho trẻ sau sinh trong vòng 24 giờ. Mức độ nguy cơ còn phụ thuộc vào việc bà mẹ có mang thai hay không. Để khắc phục nguy cơ lây truyền, tiêm chủng vắc xin viêm gan B là một biện pháp có hiệu quả nhất để phòng nhiễm HBV.

III. Cách Phòng Ngừa Viêm Gan B Cho Trẻ Dưới 1 Tuổi Hiệu Quả

Tiêm chủng vắc xin viêm gan B là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa Lây Nhiễm Viêm Gan B Từ Mẹ Sang Con và các biến chứng của bệnh. Việc tiêm vắc xin cần được thực hiện càng sớm càng tốt sau sinh, tốt nhất là trong vòng 24 giờ đầu. Ngoài ra, globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) cũng có thể được sử dụng để tăng cường khả năng bảo vệ cho trẻ. Các bà mẹ mang thai nên được sàng lọc Sàng Lọc Viêm Gan B Cho Bà Bầu để phát hiện sớm tình trạng nhiễm HBV và được tư vấn, điều trị phù hợp. Hướng Dẫn Phòng Ngừa Viêm Gan B Cho Bà Mẹ và gia đình cũng rất quan trọng để ngăn ngừa lây nhiễm chéo.

3.1. Tiêm chủng vaccine viêm gan B và globulin miễn dịch HBIG

Tiêm chủng viêm gan B là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất, với khả năng bảo vệ lên đến 95%. Trẻ sơ sinh nên được tiêm mũi vaccine đầu tiên trong vòng 24 giờ sau sinh, tiếp theo là các mũi nhắc lại theo lịch trình. Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) cung cấp kháng thể thụ động, giúp tăng cường bảo vệ cho trẻ trong thời gian chờ vaccine phát huy tác dụng. Tiêm chủng viêm gan B có thể lòng ghép vào chương trình TCMR của tổ chức Y tế thế giới và ở Việt Nam và được thực hiện năm 1997.

3.2. Sàng lọc và điều trị viêm gan B cho bà mẹ mang thai

Sàng lọc Viêm Gan B Cho Bà Bầu giúp phát hiện sớm tình trạng nhiễm HBV, từ đó có kế hoạch quản lý và điều trị phù hợp. Các bà mẹ mang thai nhiễm HBV nên được tư vấn về nguy cơ lây nhiễm cho con và các biện pháp phòng ngừa. Trong một số trường hợp, việc điều trị bằng thuốc kháng virus có thể được chỉ định để giảm tải lượng virus và nguy cơ lây truyền. Theo nhiều chuyên gia cho rằng tỉ lệ thai phụ nhiễm HBV từ 10 - 13%.

IV. Nghiên Cứu Thực Tế Kiến Thức và Thực Hành tại Mỹ Thọ

Nghiên cứu tại Thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015 cho thấy kiến thức và thực hành phòng nhiễm HBV ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi còn hạn chế. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng nhiễm HBV chỉ đạt 33,1%, trong khi tỷ lệ thực hành đúng là 70,9%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành bao gồm trình độ học vấn, thu nhập kinh tế và tiếp cận thông tin.

4.1. Đánh giá kiến thức về phòng nhiễm HBV

Nghiên cứu cho thấy kiến thức của bà mẹ về phòng nhiễm HBV còn nhiều hạn chế. Chỉ có 54,9% bà mẹ biết nguyên nhân gây bệnh là do virus, 69,1% biết đường lây truyền qua đường máu, 33,1% biết đường lây truyền qua đường tình dục, và 61,7% biết mẹ có thể truyền sang con. Đáng chú ý, chỉ có 17,7% bà mẹ biết số mũi tiêm đủ liều vaccine phòng HBV. Các kiến thức của bà mẹ về phòng nhiễm HBV còn nhiều hạn chế. Chỉ có 54,9% bà mẹ biết nguyên nhân gây bệnh là do virus.

4.2. Đánh giá thực hành phòng lây nhiễm HBV

Thực hành phòng lây nhiễm HBV cũng chưa được thực hiện đầy đủ. Chỉ có 34,3% bà mẹ đã đi xét nghiệm HBV, trong đó 6,7% dương tính. Tỷ lệ bà mẹ đi tiêm vaccine là 15,2%, và tiêm cho trẻ là 84%. Tuy nhiên, chỉ có 26,9% bà mẹ tiêm đủ trên 3 mũi. Các yếu tố liên quan đến thực hành là kinh tế và TĐHV. Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong nhiều năm nay đã thực hiện tiêm vắc xin dịch vụ phòng bệnh viêm gan B cho người dân nhất là phụ nữ tuổi sinh đẻ nhưng đạt rất thấp.

V. Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức và Thực Hành tại Mỹ Thọ

Để cải thiện tình hình, cần có các giải pháp toàn diện bao gồm tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao năng lực cho cán bộ y tế tuyến cơ sở, và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân. Các chương trình truyền thông nên tập trung vào cung cấp thông tin chính xác, dễ hiểu về Kiến Thức Về Viêm Gan B, Thực Hành Phòng Ngừa Viêm Gan B, và tầm quan trọng của việc tiêm chủng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể và cộng đồng để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.1. Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe

Cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe bằng nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp. Các hình thức truyền thông có thể bao gồm: tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, phát tờ rơi, treo băng rôn, áp phích, và sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, truyền hình, internet, mạng xã hội. Nội dung truyền thông cần tập trung vào cung cấp thông tin chính xác, dễ hiểu về bệnh viêm gan B, đường lây truyền, cách phòng ngừa, và tầm quan trọng của việc tiêm chủng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể và cộng đồng để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.2. Cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế và tiêm chủng

Cần cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và tiêm chủng cho người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Các biện pháp có thể bao gồm: tăng cường mạng lưới y tế cơ sở, mở rộng các điểm tiêm chủng, giảm chi phí tiêm chủng, và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tiêm chủng. Cần đảm bảo rằng tất cả trẻ sơ sinh đều được tiêm vaccine viêm gan B trong vòng 24 giờ sau sinh.

VI. Kết Luận Phòng Ngừa Viêm Gan B Đầu Tư cho Tương Lai

Phòng Ngừa Viêm Gan B Cho Trẻ Dưới 1 Tuổi là một đầu tư quan trọng cho tương lai của mỗi đứa trẻ và của cả cộng đồng. Bằng cách nâng cao nhận thức, thực hành các biện pháp phòng ngừa, và tăng cường hệ thống y tế, chúng ta có thể giảm thiểu gánh nặng bệnh tật do HBV và mang lại một cuộc sống khỏe mạnh hơn cho thế hệ tương lai. Cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp để có những điều chỉnh phù hợp và đạt được mục tiêu loại trừ HBV.

6.1. Tầm quan trọng của việc phòng ngừa viêm gan B sớm

Phòng ngừa Lây Truyền Viêm Gan B Từ Mẹ Sang Con sớm đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn sự lây lan của bệnh và giảm thiểu nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Tiêm chủng vaccine viêm gan B trong vòng 24 giờ sau sinh là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi nguy cơ nhiễm HBV. Các biện pháp phòng ngừa khác như sàng lọc và điều trị cho bà mẹ mang thai cũng rất quan trọng.

6.2. Hướng nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa và điều trị viêm gan B, đặc biệt là các biện pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới, hiệu quả hơn, và các vaccine có khả năng tạo miễn dịch lâu dài hơn. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để cải thiện công tác phòng chống viêm gan B.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Virus viêm gan B (hepatitis B virus: HBV) là một trong những virus gây bệnh viêm gan. Hiện nay ƣớc tính trên thế giới có khoảng 2 tỷ ngƣời nhiễm HBV, hơn 350 triệu ngƣời đang mang mầm bệnh và mỗi năm có hơn một triệu ngƣời chết vì các bệnh có liên quan đến HBV[61]. Virus viêm gan B gây ra những hậu quả nặng nề về thể chất, tinh thần, ảnh hƣởng đến tâm lý sinh hoạt của ngƣời dân trong cộng đồng[59]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam đƣợc xếp vào vùng lƣu hành cao của HBV, qua nhiều nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở Việt Nam trung bình khoảng 10% đến 20%[62].

Theo một điều tra trên ngƣời dân tại Hà Nội năm 1998 tỷ lệ ngƣời mang kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) là 11,3%. Tại thành phố Hồ Chí Minh 10%. Các địa phƣơng khác cũng có nhiều báo cáo về tỷ lệ mang dấu ấn HBsAg nhƣ tại Tiền Giang 21,2%, tại Lâm Đồng 16,7%. Có tới 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm virus viêm gan B sẽ trở thành ngƣời mang virus mãn tính, nhƣng tỷ lệ này giảm xuống còn 25-50% ở trẻ em bị nhiễm từ 1-5 tuổi và ở trẻ lớn hơn tỷ lệ này chỉ còn 5-10%[27],[11].

Chính vì vậy, những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ mang HBsAg và bản thân những đứa con của họ là nguồn lây tiềm ẩn trong cộng đồng và chính tình trạng mang HBV ở lứa tuổi ấu thơ càng làm tăng nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thƣ gan nguyên phát [11], [45]. Tỷ lệ lây truyền HBV từ mẹ mang HBsAg sang con của mình trong thời kỳ chu sinh (lây truyền dọc) từ những nơi khác nhau trên thế giới: theo nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy tỷ lệ lây truyền dọc thấp nhất là 8,3%, cao nhất là 73%. Tỷ lệ lây truyền dọc ở Indonesia: 37%, Singapore: 42,9%, Phillipin: 41,2%, Senegal: 14,3%, Ấn độ: 54%. Còn ở Việt Nam, theo tác giả Trần Thị Lợi tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ là 40%; Nguyễn Tuyết Nga (Hải Phòng): 17,81% [23]; Chu Thị Thu Hà (Hà Nội):55,2%[13]; Phạm Song (Hà Nội); 44,7% [28].

Để khắc phục nguy cơ lây truyền cũng nhƣ hậu quả nhiễm HBV, tiêm chủng vắc xin viêm gan B là một biện pháp có hiệu quả nhất để phòng nhiễm HBV và các 2 hậu quả của nó. Tiêm chủng viêm gan B có thể lòng ghép vào chƣơng trình TCMR của tổ chức Y tế thế giới và ở Việt Nam và đƣợc thực hiện năm 1997. Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong nhiều năm nay đã thực hiện tiêm vắc xin dịch vụ phòng bệnh viêm gan B cho ngƣời dân nhất là phụ nữ tuổi sinh đẻ nhƣng đạt rất thấp, tỷ lệ phụ nữ tham gia kiểm soát các bệnh truyền nhiễm trƣớc sinh không cao. Hoạt động phát hiện sớm bệnh nhân nhiễm HBV còn phụ thuộc vào ý thức của ngƣời dân, thực hiện quản lý theo dõi và điều trị cho bệnh nhân viêm gan B chƣa thực hiện tại các trạm Y tế xã, phƣờng, thị trấn.

Thị trấn Mỹ Thọ nằm ngay trung tâm của Huyện Cao Lãnh với dân số 15.600, phụ nữ có con dƣới 1 tuổi hàng năm khoảng 180 bà. Tại đây chƣa có tác giả nào nghiên cứu về kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng nhiễm HBV ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi. Để bổ sung cho bản đồ dịch tễ học về tỷ lệ nhiễm HBsAg đặc biệt là đối với bà mẹ có con dƣới 1 tuổi, giúp cho các nhà hoạch định chính sách tại địa phƣơng có các thông tin cần thiết, làm cơ sở khoa học để thực hiện có hiệu quả chiến lƣợc tiêm chủng vắc xin VG B trƣớc 24 giờ sau sinh. Góp phần giảm tỷ lệ mắc VG B sơ sinh cũng nhƣ phòng những hậu quả của bệnh.Thêm vào đó, đánh giá đƣợc kiến thức, thực hành của các bà mẹ về việc phòng bệnh cho cá nhân, gia đình ngƣời thân làm cho công tác phòng nhiễm HBV tại địa phƣơng đƣợc hiệu quả hơn.

Để thực hiện đƣợc vấn đề này chúng tôi tiến hành “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng nhiễm HBV ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp năm 2015”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao sự hiểu biết về bệnh cũng nhƣ phòng ngừa sự lây truyền của virus viêm gan B. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng nhiễm virus viêm gan B ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại Thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015.

Xác định yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng nhiễm virus viêm gan B ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại Thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về viêm gan do virus viêm gan B 1. Virus viêm gan B Năm 1963, Blumberg đã tìm ra trong máu của ngƣời Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên kháng nguyên Australia.

Sau đó kháng nguyên này đƣợc tìm thấy trong huyết thanh của bệnh nhân bị viêm gan. Ngày nay kháng nguyên Australia đƣợc biết là kháng nguyên bề mặt cả virus viêm gan B (HBV)[28]. HBV thuộc họ Hepadnaviridae có nhân là Deoxyribo nucleic acid (DNA). Hạt virus HBV đƣợc gọi là hạt Dane có hình cầu, đƣờng kính 42nm, gồm 3 lớp, lớp bao ngoài dày 7nm, vỏ capsit hình hộp đƣờng kính 27-28nm và lõi chứa bộ gen của virus.

Quan sát huyết thanh ngƣời bị nhiễm HBV bằng kính hiển vi điện tử thấy có 3 loại hình thể của HBV: các vi cầu có đƣờng kính 20-22nm, các hình ống nhỏ có kích thƣớc 20- 22nm x 40-400nm và các hạt hình cầu to là HBV hoàn chỉnh[17]. Bệnh viêm gan do virus viêm gan B Bệnh viêm gan do virus viêm gan B (HBV) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Sau khi xâm nhập vào tế bào gan, HBV nhân lên, lan tràn trong mô gan và lƣu hành trong tuần hoàn. Thời kỳ ủ bệnh của HBV khoảng 50 đến 180 ngày.

Đa số ngƣời nhiễm HBV mãn tính không có triệu chứng trong nhiều năm và có hoặc không có dấu hiệu bệnh gan về mặt sinh hóa hoặc mô học. Sau nhiễm HBV bệnh nhân có thể bình phục hay diễn tiến đến tình trạng viêm gan mạn tính[22]. Khi một ngƣời trƣởng thành bị nhiễm HBV, cơ thể ngƣời bị nhiễm bệnh có thể đáp ứng lại bằng nhiều cách khác nhau. Khoảng 50% các trƣờng hợp bị nhiễm HBV không có dấu hiệu lâm sàng, khoảng 49% ngƣời nhiễm HBV có dấu hiệu nhƣ sốt nhẹ, mệt mỏi, ăn mất ngon, nôn ói và khoảng 1% những ngƣời bị nhiễm HBV có biển hiện của viêm gan tối cấp.

Những ngƣời bị viêm gan tối cấp đột ngột bị suy sụp, mệt mỏi, vàng da, cổ trƣớng. Những ngƣời này nếu không đƣợc xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Ngƣời mang mầm bệnh HBV mạn tính có nguy cơ bị xơ gan và ung thƣ gan về sau[32]. 5 Viêm gan cấp tính: Trải qua 3 thời kỳ bao gồm thời kỳ ủ bệnh, thời kỳ khởi phát và thời kỳ toàn phát.

Tuy nhiên 90% đến 95% số ngƣời lớn nhiễm HBV sẽ hồi phục và khoảng 5% đến 10% ngƣời bị nhiễm trở thành nhiễm HBV mạn tính. Những ngƣời này thƣờng không nhận biết họ đã nhiễm HBV nếu không làm xét nhiệm máu. Trong giai đoạn đầu, ngƣời bệnh có thể có các triệu chứng mệt mỏi toàn thân, đau mỏi khớp, sốt nhẹ và hội chứng tiêu hóa với các triệu chứng chán ăn, buồn nôn, táo bón hoặc tiêu chảy. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng nặng hơn xuất hiện nhƣ vàng mắt, vàng da, nƣớc tiểu sẫm màu[8].

Viêm gan mạn tính: viêm gan mạn tính do HBV có thời gian ủ bệnh kéo dài. Viêm gan mạn tính tồn tại thƣờng không có triệu chứng, hoặc có thể có những triệu chứng nhƣ mệt mỏi, chán ăn. Đau tức nhẹ vùng hạ sƣờn phải. Khi thăm khám lâm sàng thấy bình thƣờng hoặc thấy gan hơi to.

Tiên lƣợng tốt với những thƣơng tổn tồn tại không tiến triển[17]. Tuy nhiên viêm gan mạn tính do HBV tồn tại có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính hoạt động nếu vẫn có sự nhân lên của HBV. Viêm gam mạn tính hoạt động chiếm 30% số nhiễm HBV mạn tính. Thâm nhiễm viêm lan tràn vƣợt qua khoảng cửa vào trong tiểu thùy gan.

Hoại tử kiểu mối gặm quanh tiểu thùy, viêm và hoạt tử kiểu cầu nối kéo dài từ khoảng cửa vào trung tân tiểu thùy, thậm chí sang tiểu thùy khác làm đảo lộn cấu trúc tiểu thùy dẫn đến xơ gan [10]. Viêm gan mạn tính hoạt động với các dấu hiệu lâm sàng nhƣ mệt mỏi, đau hạ sƣờn phải, vàng da và ngứa. Biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa nhƣ cổ trƣớng và xuất huyết tiêu hóa. Có thể có triệu chứng tăng men gan và giảm số lƣợng tế bào máu [39].

Ngƣời bệnh bị viêm gan do HBV mãn tính có nguy cơ phát triển thành ung thƣ gan. Ngƣời bệnh có thể không có triệu chứng hoặc có thể có triệu chứng đau bụng, gan to, giảm cân và sốt. Các xét nghiệm sàng lọc chuẩn đoán hữu ích nhất cho ung thƣ gan là xét nghiệm một protein đƣợc sản xuất bởi các bệnh ung thƣ gọi là alpha-fetoprotein và một hình ảnh siêu âm gan. Hai xét nghiệm kiểm tra này đƣợc sử dụng với bệnh viêm gan do HBV mãn tính, đặc biệt là nếu họ có bị xơ gan hoặc tiểu sử gia đình từng có ngƣời bị ung thƣ gan [15],[16].

Dịch tễ học virus viêm gan B 1. Tình hình nhiễm virus viêm gan B trên thế giới Theo ƣớc tính của WHO năm 2013 có khoảng 2 tỉ ngƣời trên Thế giới đang mang virus VGB và hàng năm khoảng 600.000 ngƣời tử vong do các bệnh có liên quan đến virus VGB nhƣ viêm gan cấp, tối cấp, về lâu dài có thể biến chứng thành xơ gan và ung thƣ gan [60]. Riêng trên toàn Thế giới có khoảng 50 triệu trẻ em bị nhiễm virus VGB, 7-15 triệu sẽ bị chết do hậu quả nhiễm trùng này khi đến tuổi trƣởng thành[30]. Châu Á và châu Phi có tỷ lệ mang virus VGB cao nhất chiếm khoảng 20% dân số.

Châu Âu tỷ lệ ít hơn chiếm khoảng 1 - 5% dân số. WHO đã chia thành 3 vùng lƣu hành dịch bao gồm: - Vùng lƣu hành dịch cao( >7%): Gồm những nƣớc có tỷ lệ mang virus VGB trên 7% dân số nhƣ Đài Loan 14,5%, Trung Quốc 9,5%, Khu vực Đông Nam Á 11,9%, vùng Amazon 8%, Bắc Phi 10%. Ở những vùng này phƣơng thức lây truyền từ mẹ sang con qua nhau thai đóng vai trò quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Kiến Thức và Thực Hành Phòng Nhiễm Virus Viêm Gan B Ở Bà Mẹ Có Con Dưới 1 Tuổi Tại Mỹ Thọ" cung cấp những thông tin quan trọng về cách phòng ngừa và quản lý virus viêm gan B cho các bà mẹ có con nhỏ. Tài liệu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B mà còn hướng dẫn các biện pháp thực hành an toàn để bảo vệ sức khỏe cho cả mẹ và bé. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiêm vắc xin cho trẻ và các biện pháp phòng ngừa khác.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tỷ lệ mang hbsag ở người mẹ mang thai lây nhiễm sang con và đáp ứng miễn dịch ở trẻ sau tiêm vắc xin viêm gan b tại huyện định hóa thái nguyên", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tỷ lệ lây nhiễm và đáp ứng miễn dịch ở trẻ em.

Ngoài ra, tài liệu "Khả năng tiếp cận và chấp thuận các chương trình truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại huyện đan phượng hà nội khóa luận tốt nghiệp dược sĩ" cũng rất hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng kháng sinh an toàn cho trẻ nhỏ.

Cuối cùng, tài liệu "Luận án tiến sĩ thực trạng mắc bệnh tay chân miệng ở trẻ 1 5 tuổi kiến thức thực hành phòng chống bệnh của người chăm sóc trẻ và hiệu quả can thiệp tỉnh hậu giang 2013 2015" sẽ cung cấp thêm thông tin về các bệnh truyền nhiễm khác mà trẻ em có thể gặp phải, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về sức khỏe trẻ nhỏ.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những thông tin thiết thực để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.