Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CHAT THÁI Y TẾ VÀ PHAP LUAT VE QUAN LY CHAT THÁI Y TE 1. Lý luận về quan ly chat thai y tế 1. Khái niệm chất thải y tế Về bản chất, chất thải y tế là một loại chất thải, vì vậy dé làm rõ khái niệm chất thải y tế trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm chất thải. Hiện nay, đất nước ta xây dựng và phát triển nên kinh tế thị trường, tốc độ CNH- HĐH ngày càng mạnh mẽ.
Nền kinh tế phát triển, đời sống con người được cải thiện, nhưng đi cùng với đó là nhiều hệ lụy phía sau. Van dé chat thải đang trở thành một nỗi lo lớn không chỉ với riêng nước ta mà cũng là van nạn lớn trên toàn thế giới hiện nay. Vậy chất thải là gì? Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những chất không còn sử dụng được nữa bị con người thải ra trong các hoạt động khác nhau của đời sống. Chất thải tồn tại trên thực tế rất đa dạng và phong phú, việc phân loại chất thải có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp, biện pháp quan lý cũng như trách nhiệm của các chủ thé quản lý chat thải.
Từ quan niệm chung về chất thải, chúng ta đi giải mã khái niệm về chất thải y tế. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Chất thải y tế bao gồm toàn bộ chất thải từ các cơ sở y tế, các trung tâm nghiên cứu và các phòng thí nghiệm. Ngoài ra, nó bao gồm cả các nguồn rác thải nhỏ và rải rác từ các hoạt động y tế diễn ra tại nha như lọc máu, tiêm insulin, chăm sóc phục hồi [22]. Cũng theo WHO, có từ 75% đến 90% chat thai do các cơ sở y tế sản xuất có thể so sánh với chất thải sinh hoạt và thường được gọi là “chất thải không nguy hại” hoặc “chất thải chăm sóc sức khỏe nói chung”.
Nó chủ yếu 10 đến từ khu hành chính, nhà bếp và các chức năng vệ sinh tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe và cũng có thể bao gồm chất thải đóng gói và chất thải phát sinh trong quá trình bảo trì các tòa nhà chăm sóc sức khỏe, và có từ 10% đến 25% chất thải y tế còn lại được coi là “nguy hiểm” và có thé gây ra nhiều rủi ro về môi trường và sức khỏe [22]. Theo như định nghĩa trên, ta thấy theo quan điểm của WHO thì chất thải y tế không chỉ phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh mà còn từ các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm có liên quan đến hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe. Không những thế, các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế diễn ra tại nhà cũng được coi là chất thải y té. Nhu vay, theo WHO dé xác định chat thải đó có phải là chất thai y tế hay không chúng ta cần dựa vào tiêu chí nguồn phát sinh chất thải.
Chất thải y tế là những chất thải từ các hoạt động y tế nhằm duy trì và khôi phục sức khỏe của con người. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC) lại nêu định nghĩa đơn giản về chất thải y tế như sau: “Chất thải y tế bao gdm toàn bộ chất thải thải ra trong các hoạt động y tế và hoạt động chan đoán” [23]. Theo Cơ quan bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA - U. Environmental Protection Agency), chất thải y tế được quan niệm như sau: Chất thải y té 1a mét tap hop nho cac chất thai được tao ra tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, chăng hạn như bệnh viện, văn phòng bác sĩ, phòng khám nha khoa, ngân hàng máu và bệnh viện/phòng khám thú y, cũng như các cơ sở nghiên cứu và phòng thí nghiệm y tế.
Nói chung, chất thải y tế là chất thải y tế có thể bị ô nhiễm bởi máu, dich cơ thé hoặc các vật liệu có khả năng lây nhiễm khác và thường được gọi là chất thải y tế được quản lý [21]. Về cơ bản, cả WHO, ICRC và EPA đều đưa ra khái niệm về chất thải y tế tương đồng với nhau, tuy nhiên với khái niệm của EPA đưa ra chỉ tiết hơn về các nguồn phát sinh chất thải y tế so với WHO và ICRC. II Tại Việt Nam, khái niệm “Chất thải y tế” được quy định trong nhiều văn bản pháp luật, cụ thể là tại khoản 2 Điều 1 của “Quy chế quản lý chất thải y tế” ban hành kèm theo Quyết định số 2575/1999/QĐ-BYT ngày 27 tháng 8 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định: “Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, long và dạng khí” [1].
Đến năm 2007, khái niệm này được rút gọn hơn theo khoản 1 Điều 3 của Quy chế “Quản lý chất thải y tế” (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QD-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế): “Chat thải y tế là vật chất ở thé ran, long và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường” [2]. Như vậy, theo thời gian, khái niệm về “chất thải y tế” đã có sự thay đổi, không còn trong phạm vi hẹp, cụ thé là từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, dao tạo nữa, mà được quy định ngắn gọn hơn nhưng cũng rộng hơn, chỉ cần là chất thải được thải ra từ các cơ sở y tế và đồng thời ở đây cũng thấy được sự khác biệt rõ ràng giữa 2 khái niệm này là chất thải y tế không còn bó hẹp ở các dạng là răn, lỏng, khí nữa mà chúng được chia thành chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Khái niệm “Chất thải y tế” thay đổi theo khoản 1 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) về “Quản lý chất thải y tế”: “Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gom chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế” [4]. Theo Thông tư này, khái niệm chất thải y tế đã được bổ sung thêm phan nước thải y tế.
Đến Thông tư số 20/2021/TT-BYT của Bộ Y tế, tại khoản 1 Điều 3 lại quan niệm: “Chất thải y tế là chất thải phát sinh từ hoạt động của cơ sở y tế, 12 bao gôm chất thải y tế nguy hai, chất thải rắn thông thường, khí thải, chất thai lỏng không nguy hại và nước thải y tế” [5]. Như vậy qua thời gian, khái niệm chất thải y tế tuy có sự thay đổi, nhưng về bản chất có thê hiểu chất thải y tế là các chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế. Chất thải y tế bao gồm: Chất thải y tế nguy hại, chất thải rắn thông thường, khí thải, chất lỏng không nguy hại và nước thải y tế. Tuy nhiên, khái niệm này lại không được sử dụng trong Luật Bảo vệ môi trường 2020 mà chỉ được quy định trong các thông tư và thông tư liên tịch của Bộ Y tế.
Trước sự tác động mạnh mẽ của chất thải y tế đối với môi trường, Nhà nước quy định việc phân loại chất thải y tế theo khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT- BYT-BTNM của Bộ y tế và Bộ TN&MT như sau: 3. Phân loại chat thải y tế: a) Chat thải lây nhiễm sắc nhọn: Dung trong thùng hoặc hộp có màu vàng; b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; d) Chat thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen; e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng long: Dung trong các dụng cụ có nắp đậy kín; g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Dung trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng. Việc phân loại chất thải tại nguồn có thé tận dụng lượng chất thải y té thông thường có thé tái chế, giúp cho co sở giảm bớt kinh phí xử ly chat thải. Chất thải sau khi phân loại tại nguồn được hộ lý, nhân viên trong mỗi cơ sở 13 chịu trách nhiệm thu gom về kho tập kết tương ứng trong khuôn viên của cơ sở trước khi vận chuyên xử lý theo đúng quy định.
Nguồn phát sinh chat thải y tế: Chat thải y tế có thé phát sinh từ các cơ sở y tế như: - Khám chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng: giám định y khoa, pháp y, y được cô truyền; - Y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản; - Kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết biy tế; - Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo; - Nhà hộ sinh, trạm y tế v. Hậu quả của chất thải y té doi với môi fFường va con Hgười Đối tượng chịu ảnh hưởng là tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguy hại ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện, tại tất cả các công đoạn từ phát sinh, thu gom, vận chuyên và xử lý đều chịu tác động xấu đến sức khoẻ, nếu chất thải y tế không được quản lý đúng cách và các vấn đề về an toàn không được quan tâm đúng mức. Các đối tượng chịu ảnh hưởng chính gồm: - Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y si, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình xử lý chat thải .; - Nhân viên của các don vị hoạt động trong cơ sở y tế: nhân viên công ty vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi .