Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở gia súc nhai lại 1. Vị trí của giun xoăn dạ múi khế trong hệ thống phân loại động vật Giun xoăn ký sinh chủ yếu ở dạ múi khế trâu, bò, bê, nghé gồm nhiều giống loài.
Nhiều loài giun của 5 giống trong 3 họ phụ này ký sinh ở dạ múi khế và ruột non loài nhai lại (trâu, bò, dê, cừu, hươu). Trong điều kiện tự nhiên, tất cả các loài động vật nhai lại đều bị cảm nhiễm Trichostrongylidae. Cụ thể theo Skrjabin K. (1963) [34]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [28]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16], giun xoăn dạ múi khế có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Strongylida Railliet et Henry, 1913 Phân bộ Strongylata Railliet et Henry, 1913 Siêu họ Trichostrongyloidea Cram, 1927 Họ Trichostrongylidae Leiper, 1912 Phân họ Trichostrongylinae Leiper, 1905 Giống Trichostrongylus Looss, 1905 Loài T.
probolurus (Railliet, 1896) Giống Ostertagia Ransom, 1907 Loài O. circumcincta (Stadelmann, 1894) 4 Giống Marshallagia Orloff, 1933 Loài M. marshalli (Ransom, 1907) Phân họ Haemonchinae Skrjabin et Schulz, 1952 Giống Haemonchus Cobbold, 1898 Loài H. similis (Travassos, 1914) Phân họ Cooperinae Skrjabin et Schikhobalova, 1952 Giống Cooperia Ransom, 1907 Loài C.
punctata (Linstow, 1906) Phân họ Nematodirinae Skrjabin et Orloff, 1934 Giống Nematodirus Ransom, 1907 Loài N. skrjabini (Mizkewisch, 1929) Giống Mecistocirrus Railliet et Henry, 1912 Loài M. Thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [17] cho biết, có 7 giống loài phổ biến gồm trên 100 loài, gia súc nhai lại nhiễm hỗn hợp các giống này, trong đó có 2 giống gây tác hại lớn là Haemonchus và Mecistocirrus. 7 giống gồm: Tên giống Ký chủ Vị trí ký sinh Haemonchus Cừu, dê, trâu, bò Dạ múi khế, ruột non Mecistocirrus Trâu, bò, dê, cừu, lợn Dạ múi khế, dạ dày lợn Trichostrongylus Trâu, bò, dê, cừu Dạ múi khế, ruột non Osrtertagia Trâu, bò, dê, cừu Dạ múi khế Marshallagia Dê, cừu, bò Dạ múi khế, dạ lá sách Cooperia Dê, cừu, bò Dạ múi khế, ruột non Nematodirus Dê, cừu, bò Ruột non Các loài giun này thường gây bệnh hỗn hợp.
Trong đó có 3 loài Haemonchus contortus, Haemonchus similis và Mecistocirrus digitatus gây tác hại lớn cho ký chủ. Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế Về hình thái chung, giun xoăn dạ múi khế có thân hình sợi chỉ không phân đốt, cơ thể đối xứng hai bên. Bên ngoài được che phủ một lớp Kitin hay còn gọi là lớp biểu bì có các vân, vân ngang hoặc vân chéo (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái, 1978) [41]. Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [42] mô tả cấu tạo của giun xoăn dạ múi khế gồm các bộ phận sau: - Hệ tiêu hóa gồm: miệng, môi, túi miệng, thực quản, ruột, hậu môn.
- Hệ thần kinh: đơn giản, có vòng dây thần kinh thực quản và các gai cảm giác toàn thân. - Hệ bài tiết: gồm 2 ống bài tiết chạy từ phần sau của cơ thể lên đến phần đầu, rồi xuống và đổ ra lỗ huyệt. - Hệ sinh dục của giun đực và giun cái có cơ quan sinh dục đực hoặc cái. * Các loài thuộc giống Haemonchus.
contortus: Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [28], loài Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của bò, trâu, dê trên phạm vi toàn quốc và phổ biến trên toàn cầu. Tác giả đã mô tả hình thái H. contortus (theo Kamenskii, 1929): giun đực dài 18,7 - 22,3 mm, rộng nhất 0,352 - 0,416 mm. Trứng có vỏ mỏng, kích thước 0,080 - 0,085 mm x 0,040 - 0,045 mm.
Đặc điểm hình thái cấu tạo của loài Haemonchus contortus mà Nguyễn Thị Lê mô tả ở trên phù hợp với sự mô tả của Skrjabin K. similis: Thân nhỏ, màu vàng sẫm. Gai cổ rất rõ. Lỗ bài tiết ở phía trước cách đầu 0,231 mm.
Túi miệng rất nhỏ, có răng. Quanh miệng có môi bao bọc, phần sau thực quản phình to. Giun đực dài 8,000 - 11,000 mm, rộng 0,232 - 0, 265mm. Giun cái dài 12,500 - 21,000 mm, rộng 0,315 - 0,378 mm.
Trứng hình bầu dục, có kích thước 0,073 - 0,079 x 0,031 - 0,042 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [17]). Vỏ trứng mỏng, có phôi bào (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [42]. 6 * Loài Mecistocirrus digitatus Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [17] đã mô tả: giun màu hồng nhạt, biểu bì có vân. Túi miệng nhỏ, có 1 răng lớn, thực quản dài 1,600 - 1,800 mm, rất nhỏ, phần sau hơi rộng.
Giun đực dài 25,000 - 31,000 mm, giun cái dài 35,000 - 39, 000 mm Trứng dài 0,099 - 0,105 mm, rộng 0,046 - 0,049 mm, có hai lớp vỏ mỏng bao bọc. * Các loài thuộc giống Trichostrongylus. Giống Trichostrongylus gồm nhiều loài, trong đó có một số loài quan trọng ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của gia súc nhai lại. axei (Cobbold, 1879): được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới.
Ở Việt Nam, đã tìm thấy loài giun này ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn. đã mô tả: giun đực dài 3,4 - 4,5 mm, rộng nhất 0,05 - 0,07 mm. Giun cái dài 4,6 - 5,5 mm, rộng 0,055 - 0,075 mm. Kích thước trứng 90 - 92 x 35 - 42 µm (Drozdz và Malcrewski, 1967[6]; Phan Thế Việt, 1977 [49]; Trịnh Văn Thịnh, 1978 [41]; Nguyễn Thị Lê, 1996 [28]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [16]).
colubriformis: Ngoài loài giun T. Giun này phổ biến ở bò, dê, cừu trên phạm vi toàn cầu. Ở nước ta, phát hiện giun ở dạ múi khế và ruột non bò, dê ở các tỉnh phía Bắc. Giun đực dài 4,0 - 6,0 mm, rộng 0,078 - 0,095 mm.
Giun cái dài 5,0 - 6,0 mm; rộng nhất ở vùng lỗ sinh dục (0,080-0,100 mm). Trứng có kích thước 73 - 76 x 40 - 43 µm (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [28] - T. probolurus: Giun đực dài 4,300 - 6,500 mm. Giun cái dài 4,833 - 6,270 mm, rộng 0,066 - 0,1112 mm.
Trứng có kích thước 0,072 - 0,095 x 0,042 - 0,0582 mm. *Các loài thuộc giống Cooperia. laterouniformis: Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [41] cho biết, loài này thân hình sợi chỉ, biểu bì mỏng có vân ngang, vân dọc dài khắp thân; chóp đầu thường có hình một túi phình; thực quản hơi rộng ở phần trên và phần cuối; vòng thần kinh ở khoảng 2/3 thực quản. Giun đực dài 4,944 mm, rộng 0,071 mm.
Giun cái dài 5,700 mm, rộng nhất 0,069 mm; chỗ phình đầu dài 0,023 mm và rộng 0,011 mm; thực quản dài 0,297 mm, rộng nhất 0,069 mm. Trứng có kích thước 0,073 - 0,030 mm. pectinata: Giun đực dài 7,000 mm, rộng 0,130 - 0,160 mm. Giun cái dài 7,500 - 9,000 mm, rộng 0,110 - 0,135 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [17].
punctata: Theo Skrjabin K. (1963) [34], giun cái dài 5,700 - 10,000 mm. Giun đực dài 5,000 - 9,000 mm. Giun cái dài 5,700 - 10,00 mm.
* Các loài thuộc giống Nematodirus. oiratianus: Con đực dài 11,000 - 16,500 mm. Con cái dài 14, 500 - 17,6 00 mm. Trứng rất lớn, dài 0,255 - 0,272 mm, rộng 0,119 - 0,153 mm.
skrjabin: Con đực dài 15,500 - 17, 250 mm và rộng 0,124 - 0,183 mm. Con cái dài 28,500 - 29,500 mm, rộng 0,450 - 0,650 mm. Trứng lớn, dài 0,229 - 0,265 mm, rộng 0,084 - 0,114 mm. * Phần lớn trứng giun thuộc họ Trichostrongylidae có hình dạng và kích thước gần giống nhau nên nếu chỉ căn cứ vào hình thái trứng thì không thể xác định được loài giun.
Có thể nuôi trứng Trichostrongylidae nở và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh. Sau đó phân loại theo khoá định loài của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [28] dựa vào hình thái, kích thước và cấu tạo của ấu trùng có sức gây bệnh. Các dạng ấu trùng cảm nhiễm bộ Strongylida 1. Nematodirus Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [28] 1.
Chu kỳ sinh học của một số loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế - Chu kỳ sinh học (vòng đời) của các loài giun xoăn dạ múi khế tương đối giống nhau. Giun cái đẻ trứng với số lượng lớn trong một ngày. Trứng phát triển ở môi trường bên ngoài thành ấu trùng có sức gây bệnh rồi lại nhiễm vào ký chủ. Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế * Chu kỳ sinh học của Haemonchus sp.
(1963) [34] cho biết: giun cái đẻ trứng, trứng được bài xuất cùng phân ra môi trường bên ngoài. Nhiệt độ của môi trường bên ngoài thích hợp cho trứng phát triển tiếp tục là 20 - 300C. Trong phân, vào ngày thứ hai đã thấy có ấu trùng giai đoạn I nở ra khỏi trứng. Những ấu trùng này ăn phân và sống trong phân một thời gian, nhưng không cảm nhiễm được cho súc vật.
Ở giai đoạn này, ấu trùng kém bền vững hơn ở các giai đoạn sau: chúng chết khi phơi khô và ở nhiệt độ trên 300C. Sự thay đổi về nóng và lạnh cũng làm cho ấu trùng bị chết. Ở nhiệt độ 15 - 200C, ấu trùng giai đoạn I chỉ sau 1 đêm đã ở giai đoạn tiềm sinh, kéo dài 12 - 15 giờ. Trong thời gian này, ấu trùng lột xác, sau đó sống trở lại và chuyển vào giai đoạn II.
Ở giai đoạn II, ấu trùng mất đi khả năng ăn uống và cũng không thể ký sinh được. Qua một ngày sau, đôi khi chưa đến 1 ngày, ấu trùng lại trở lại giai đoạn tiềm sinh lần thứ hai. Trong thời gian này, ấu trùng lớn lên, nhưng tầng cutin bao quanh vẫn giữ nguyên và tạo thành nắp. Sau khi hình thành nắp thì ấu trùng chuyển vào giai đoạn III.
Lúc này, ấu trùng đã có khả năng cảm nhiễm cho động vật. Từ khi đẻ trứng đến giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm cần thời gian không dưới 4 - 5 ngày. Ở giai đoạn III, ấu trùng có sức đề kháng đặc biệt. Chúng chết trong môi trường ẩm khi nhiệt độ 500C và trong môi trường khô khi 600C.
Những ấu trùng này đặc biệt chịu được sự khô hạn. Khi khô hạn, chúng có thể ở trong trạng thái tiềm sinh trên 1 năm rưỡi. Đối với các chất tiêu độc, ấu trùng cũng rất bền vững: dung dịch creolin 2 - 3%, lizol và các chất khác không giết được ấu trùng. Ấu trùng chết trong dung dịch axit cacbonic 5% không tinh khiết.
Cũng như ở giai đoạn I và II, ấu 9 trùng cảm nhiễm chết dưới tác động của nước tiểu. Bởi vậy, trong các chuồng nuôi súc vật không thể tìm thấy ấu trùng sống. Phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở trong phân, sau đó ấu trùng tự rời bỏ phân đi nơi khác. Vào mùa đông, ấu trùng ở trên đồng cỏ thường bị chết.