CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định Vị trí địa lý Tỉnh Bình Định có tọa độ địa lý từ 103036’30” đến 1090018’15” kinh độ Đông và từ 13030’45” đến 14042’15” vĩ độ Bắc.
Nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, và phía Đông giáp biển Đông. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không khá phát triển. Bình Định là tỉnh nằm trong qui hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm của Miền Trung, có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, giao lưu trong nước và quốc tế. Nhờ vậy mà đã tạo điều kiện cho sản phẩm chăn nuôi của Bình Định tiêu thụ dễ dàng ở các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh nơi có sức tiêu thụ thực phẩm (thịt, trứng, sữa) lớn nhất cả nước.
Địa hình Địa hình núi trung bình, núi thấp: Vùng này có diện tích 254.124ha, chiếm 42% diện tích tự nhiên, phân bổ ở các huyện Vân Canh (75.932ha), Vĩnh Thạnh (78.367ha), ở Tây Sơn và Hoài Ân có 36. Có độ cao trên 500m so với mặt nước biển, đại bộ phận sườn núi dốc hơn 200. Địa hình đồi gò, bát úp ở trung du: Vùng này có diện tích 157.315ha, chiếm 26% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Tây Sơn (39.500ha), Hoài Ân (35.150ha), Phù Mỹ (16.058ha), Vân Canh (7. Đồi gò ở đây có độ dốc 10 - 150, cấu tạo chủ yếu bởi đá granít.
Địa hình đồng bằng ven biển: Phân bố kéo dài theo hướng song song với bờ biển tạo nên vòng cung ôm lấy vùng trung du và vùng núi phía Tây của tỉnh. Kiểu địa hình này phổ biến ở huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước,. vùng này có diện tích 193.619ha, chiếm 32% đất toàn tỉnh. Cát ven biển là khu vực cồn cát, lác đác gặp các hòn núi đảo sườn dốc nằm ngang trên bờ biển, tiếp sau khu vực cồn cát là những vũng trũng hàng năm được sông ngòi mang phù sa tới bồi thêm.
Dải đồng bằng Duyên hải hẹp lại bị các nhánh núi đâm ngang ra biển cắt thành những đoạn riêng biệt, mỗi đoạn có hình một tam giác châu thổ nhỏ được tạo thành bởi các sông bắt nguồn từ các dãy núi phía trong chảy ra biển. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Đặc điểm đất đai Trong tổng số diện tích đất của tỉnh Bình Đinh thì nhóm đất đỏ vàng chiếm nhiều nhất với 66,41%, tiếp đến là nhóm đất xám và bạc màu, lượng đất phù sa cũng chiếm một diện tích đáng kể (bảng 1. Phân loại đất tỉnh Bình Định Tên nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển 13.283 2,20 Nhóm đất mặn 12.710 2,10 Nhóm đất phèn 456 0,08 Nhóm đất phù sa 63.756 10,54 Nhóm đất xám và bạc màu 70.809 11,70 Nhóm đất đen 160 0,03 Nhóm đất đỏ vàng 401.811 66,41 Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 3.461 0,57 Nhóm đất thung lũng 12.875 2,13 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá 3.292 0,54 Sông suối, mặt nước 22.445 3,71 Tổng diện tích tự nhiên 605.058 100 Nguồn: Niêm giám thống kê Bình Định (2013)[14]. Khí hậu, thời tiết Bình Định mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt trung bình khá cao (bình quân 26,70C) và tương đối ổn định trong năm; tháng 1, 2 có nhiệt độ thấp nhất trong năm cũng bình quân từ 23,1 - 23,90C.
Số giờ nắng biến động từ 6,0 - 9,3 giờ/ngày, các tháng mùa khô đạt trị số cao: 211 - 245 giờ/tháng. Tuy không có mùa đông nhiệt độ thấp, nhưng hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng 1 đến 2 đợt gió mùa Đông Bắc. Mưa phân bố theo mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 kết thúc tháng 12, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa năm; mưa lớn thường xảy ra vào tháng 10, 11 thường Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 gây ra lũ lụt làm thiệt hại rất lớn về kinh tế và ô nhiễm môi trường. Đối với các huyện miền núi mùa mưa đến sớm hơn (bắt đầu tháng 8) với lượng mưa và cường độ mưa lớn hơn vùng đồng bằng ven biển rất nhiều.
Mưa lớn kết hợp giông bão (tần suất 2 - 3 năm có 1 trận lũ lớn, 0,6 trận bão 1 năm) thường xảy ra tháng 10, 11 gây ra trên diện rộng. Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, lượng mưa rất thấp, bằng 15 - 20% lượng mưa năm; tháng 5 - 7 khô kiệt nhất [10]. Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định [10] Với điều kiện về đất đai, khí hậu. kể trên khá thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển, phù hợp trồng các loại cây thức ăn gia súc và các giống cỏ cao sản; đồng thời, so sánh với điều kiện sinh lý của các loại vật nuôi nhiệt đới cho thấy thích hợp cho sinh trưởng phát triển.
Tuy nhiên, khí hậu nóng kết hợp với độ ẩm cao (71 - 83%) là yếu tố tạo ra môi trường thuận lợi để các mầm bệnh phát triển và lưu trú, khi có điều kiện dễ phát sinh dịch bệnh. Thời gian chuyển từ mùa mưa sang mùa khô và mùa khô sang mùa mưa là thời điểm thời tiết giao mùa cũng dễ làm cho gia súc - gia cầm mắc bệnh nếu không được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật. Tổ chức hành chính Bình Định có thành phố loại I trực thuộc tỉnh (TP Quy Nhơn), một thị xã (An Nhơn), 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh và Vĩnh Thạnh), 2 huyện trung du (Hoài Ân và Tây Sơn), 4 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ và Tuy Phước). Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn.
Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Quy Nhơn. Dân số Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức năm 2014, dân số của tỉnh là 1.600 người; trong đó: thành thị 464.700 người chiếm 30,8%, nông thôn 1.900 người, chiếm 69,2% tổng dân số. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Thảm cỏ tự nhiên Theo phân loại về đồng cỏ Việt Nam, thảm cỏ tự nhiên ở tỉnh Bình Định (kể cả thảm cỏ dưới tán rừng) được xếp vào loại đồng cỏ chân đồi, ven suối, phát triển theo mùa. Đây là đồng cỏ hòa thảo trên đất xám phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá granit.
Đặc điểm thảm cỏ tự nhiên được mô tả như sau: Cỏ tự nhiên mọc trên gò đồi, trên bờ ruộng, ven kênh mương, trong vườn nhà,… là hỗn hợp các loại cỏ hòa thảo như: Cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre, cỏ mật,… và rất ít cỏ họ đậu. Thành phần dinh dưỡng và chất lượng cỏ tự nhiên biến động lớn, phụ thuộc vào mùa khô hay mùa mưa, cỏ non hay già, thành phần các giống cỏ trong thảm cỏ và nơi cỏ mọc (cỏ ở chân ruộng cao hay dưới đồng trũng, ven kênh mương,…). Dọc theo các tuyến đường là loại cỏ sả dòng địa phương (Panicum maximum sp), dọc theo các kênh mương tưới, tiêu thoát nước là cỏ ống (Panicum repens). Đây là những loại cỏ có thể sử dụng làm thức ăn cho bò thịt.
Thảm cỏ dưới tán rừng và các trảng đất dốc, những nơi thường được chăn thả bò không thấy các dòng cỏ sả do chăn thả quá mức, bị gặm sát nên không đủ thời gian tái sinh. Các giống cỏ tự nhiên mọc sát mặt đất, chịu giẫm đạp và gặm sát ở các bãi chăn thả chủ yếu là: cỏ mần trầu (Eleusin indica), cỏ chỉ (Cynodon dactylon), cỏ mật (Melinus minutifora), cỏ gấu (Cyperus rodundus), cỏ lá gừng (Paspalum conjugatum), cỏ Mỹ (Pennisetum polystrachyon), cỏ lá tre (Setaria palmifolis), cỏ dẹp (Setaris cephaselata),… Tuy nhiên, các giống cỏ kể trên chỉ chiếm khoảng 20 - 35% diện tích các bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp, phần còn lại là các giống cỏ dại trâu bò không ăn được như: Cỏ hôi, cỏ chổi và đại đa số là cỏ tranh (Imperata cylindrica), cỏ trinh nữ (Mimosa mutica). Cỏ lá gừng và cỏ tranh khi còn non, bò có thể ăn được nhưng không ngon miệng nên chỉ ăn khi bị đói. Đầu mùa mưa, do thời tiết nóng ẩm, cỏ mọc nhiều và nhanh nhưng chẳng bao lâu đã xơ cứng, đến cuối mùa có khi phải đốt đi mới có mầm cỏ mọc lên cho gia súc ăn.
Chu kỳ sinh trưởng của cỏ quá nhanh cũng làm giảm chất lượng, nên thời kỳ cỏ ngon, đủ dinh dưỡng cho trâu bò ăn không đáng kể. Nhìn chung, đồng bãi cỏ tự nhiên chăn thả ở Bình Định phần lớn là cỏ thô, năng suất thấp (khoảng 3 ha mới đủ cỏ nuôi một đơn vị gia súc). Đồng cỏ tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do khai thác trồng cây lâm nghiệp, cây lâu năm nên người chăn nuôi bò ngày càng phải đưa bò đi chăn thả xa hơn; ngoài ra do tập quán chăn nuôi, đa số chỉ chăn thả trên các bãi cỏ tự nhiên là chủ yếu nên khả năng tái sinh của cỏ cũng bị hạn chế. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Ngoại trừ đồng cỏ trồng cắt (cỏ voi, cỏ sả) của các trang trại và một số hộ chăn nuôi trồng cỏ trong vườn hoặc trồng xen, song do thiếu nước tưới và ít chăm sóc đúng kỹ thuật nên lượng cỏ cung cấp cho đàn bò vẫn chưa đáp ứng nhu cầu.
Hiện tại, rơm rạ, thân bắp, đậu, cỏ tự nhiên là nguồn thức ăn thô xanh chủ yếu để nuôi trâu bò, hầu hết các hộ nuôi trâu bò sử dụng cỏ tự nhiên dưới hình thức chăn thả hoặc cắt cỏ cho bò ăn, ngoài lượng cỏ tự nhiên người chăn nuôi còn trồng cỏ để cung cấp đủ thức ăn cho trâu bò. Sản xuất trồng trọt có liên quan đến chăn nuôi Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2014 là 102.546,6 ha, năng suất 59,2 tạ/ha, sản lượng đạt 606. Với sản lượng lúa 606.647 tấn qua xay xát có thể thu được khoảng 40.000 tấn cám là nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc hoặc sử dụng trực tiếp cho chăn nuôi (bò, heo, gà) làm giảm được giá thành sản phẩm chăn nuôi. Mặt khác, diện tích trồng lúa cũng cung cấp nguồn rơm rạ sử dụng làm thức ăn thô xanh cho trâu bò (khoảng 500.
Hiện nay và trong giai đoạn tới đây, rơm lúa là nguồn cung cấp thức ăn thô xanh chủ yếu cho đàn trâu bò ở Bình Định. Diện tích gieo trồng ngô năm 2014 là 8.399,5 ha, năng suất 56,2 tạ/ha với sản lượng 47.