Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Những tiến bộ di truyền trong ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đã nâng cao năng suất sinh sản của đàn nái. Theo Julian (2001), mục tiêu chăn nuôi lợn nái là đạt 2,4 lứa/nái/năm và trên 24,5 lợn con cai sữa/nái/năm. Trong giai đoạn 2013 - 2017, năng suất sinh sản của dòng nái PIC đã tăng từ 12,6 và 26,5 lên 15,4 con/ổ và 30,6 con/nái/năm, đồng thời hệ số tiêu tốn thức ăn của lợn thịt giảm từ 2,27 xuống 2,16 kg (The Pig Site, 2018). Báo cáo của Merks (2018) chỉ ra rằng trong vòng 10 năm, các giống lợn tại châu Âu đạt mức tăng khối lượng bình quân 20 g/ngày, tỷ lệ nạc tăng 0,5% và số con sơ sinh/ổ tăng 0,2 con mỗi năm.

Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi (2021) ghi nhận tổng đàn lợn đạt trên 22 triệu con với gần 3,1 triệu lợn nái (gồm cả giống nội và ngoại), năng suất trung bình đạt khoảng 18 - 19 lợn con cai sữa/nái/năm. Hai giống nái ngoại chủ lực được nuôi phổ biến là Landrace và Yorkshire. Tuy nhiên, năng suất sinh sản của nái Landrace, Yorkshire và con lai F1 giữa hai giống này tại các trang trại trong nước chỉ đạt trung bình 22,63 - 22,85 lợn con cai sữa/nái/năm (Lê Đình Phùng, 2009; Trần Thị Bích Ngọc, 2019; Hồ Thị Bích Ngọc và cs., 2020), thấp hơn tiềm năng di truyền vốn có. Mức năng suất cao chỉ ghi nhận ở một số trung tâm giống với các dòng cao sản, đạt 25,55 đến 27,10 con cai sữa/nái/năm (Đoàn Phương Thuý và cs., 2015; Nguyễn Thị Hồng Nhung và cs.).

Dinh dưỡng là yếu tố tác động trực tiếp đến tỷ lệ phôi sống và tỷ lệ nuôi sống sơ sinh (Costa và cs.; Wu và cs., 2004; Cerisuelo và cs.). Ở giai đoạn hậu bị, việc điều chỉnh lượng axít amin ăn vào giúp kiểm soát sự tích lũy protein và dự trữ mỡ cơ thể (Stalder, 2007; Rozeboom, 2007). Trong giai đoạn mang thai, sự tăng cân hợp lý hạn chế hiện tượng hao mòn cơ thể trong thời kỳ nuôi con và tránh kéo dài thời gian động dục lại (Trottier và Johnston, 2001; Kim và cs.; Yang và cs., 2009; Gómez-Carballar và cs., 2013; Heo và cs., 2008). Trong giai đoạn nuôi con, việc thiếu hụt năng lượng và axít amin làm suy giảm thể trạng lợn mẹ, giảm khối lượng lợn con cai sữa (Beyer và cs., 2007; Park và cs., 2008; Whitney, 2010; Hawe và cs.).

Thực tế sản xuất tại Việt Nam cho thấy khẩu phần ăn cho lợn nái có mức dinh dưỡng, đặc biệt là tỷ lệ lysine tiêu hóa trên năng lượng trao đổi (Lys TH/ME), dao động rất lớn. Bên cạnh đó, các phương thức cho ăn (số bữa ăn trong ngày, dạng thức ăn bột hoặc viên) chưa được chuẩn hóa theo tiềm năng của các dòng giống mới nhập khẩu. Do đó, việc xác định tỷ lệ Lys TH/ME và phương thức cho ăn phù hợp là yêu cầu cấp thiết nhằm cải thiện năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định tỷ lệ Lys TH/ME thích hợp cho lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) [F1(LY)] ở các giai đoạn: hậu bị, mang thai và nuôi con;
  2. Đánh giá ảnh hưởng của phương thức cho lợn cái nuôi con ăn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái;
  3. Đánh giá ảnh hưởng của khẩu phần ăn có tỷ lệ Lys TH/ME và phương thức cho ăn phù hợp đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái F1(LY).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn nái lai F1 giữa hai giống Landrace và Yorkshire (F1(LY)) qua các giai đoạn sinh trưởng và sinh sản: hậu bị (30 - 60 kg và 60 kg đến phối giống lần đầu), nái mang thai và nái nuôi con.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Đánh giá các mức tỷ lệ Lys TH/ME trong khẩu phần ăn theo từng giai đoạn phát triển;
    • Khảo sát các phương thức cho ăn (thức ăn dạng viên so với dạng bột; tần suất cho ăn 2, 3 và 4 lần/ngày);
    • Thử nghiệm trong hai điều kiện chuồng trại phổ biến: chuồng kín và chuồng hở tại Việt Nam;
    • Khảo sát thực trạng chăn nuôi và năng suất sinh sản của lợn nái ngoại tại ba miền Bắc, Trung, Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tổng hợp hệ thống nghiên cứu quốc tế và trong nước về nhu cầu năng lượng, protein và axít amin của lợn nái:

  • Nghiên cứu về nhu cầu năng lượng và axít amin ở lợn cái hậu bị:

    • Nhu cầu mỡ dự trữ và thể trạng: Whittemore (1998) và Julian (2001) chỉ ra rằng lợn cái hậu bị cần đạt khối lượng 130 kg, tuổi phối giống khoảng 220 ngày và độ dày mỡ lưng đạt trên 18 mm (18 - 20 mm). Close và cs. (2004) khuyến nghị chọn lọc hậu bị ở mức 60 kg (mỡ lưng 7 - 8 mm) và phối giống ở 220 - 230 ngày tuổi (130 - 140 kg, mỡ lưng 16 - 20 mm). Gaughan và cs. (1995), Brisbane và Chenais (1996), Tummaruk và cs. (2001) ghi nhận mối tương quan thuận giữa độ dày mỡ lưng lúc phối giống lần đầu với số lứa đẻ và số con sơ sinh còn sống ở lứa sau.
    • Tỷ lệ dinh dưỡng và giới hạn tăng trọng: Bikker và cs. (1994) xác định tỷ lệ tối ưu giữa lysine tiêu hóa và năng lượng tiêu hóa cho lợn hậu bị 20 - 45 kg là 0,61 - 0,63 g Lys TH/MJ DE. Gill (2006) khảo sát trên giống Large White ghi nhận việc tăng tỷ lệ protein (lysine)/DE giúp tăng tích lũy mỡ và khối lượng cơ thể tại thời điểm phối giống. Young (2003) khuyến cáo mức protein và lysine cho lợn hậu bị qua các giai đoạn 25 - 50, 50 - 75, 75 - 90 và 90 - 115 kg tương ứng là 19; 17,8; 15,5; 13,6% protein và 1,15; 1,05; 0,9; 0,8% lysine. Mức tăng khối lượng thích hợp cho lợn hậu bị được xác định trong khoảng 550 đến 800 g/ngày (Foxcroft và Aherne, 2001; Young, 2003). Về tuổi phối giống lần đầu, Tani và Koketsu (2016) cho biết khi tuổi phối tăng từ 220 lên 300 ngày thì tỷ lệ loại thải tăng 2,1%; Bortolozzo và cs. chỉ ra hậu bị tăng trọng >700 g/ngày hoặc thừa cân lứa đầu (>150 - 170 kg) làm tăng tỷ lệ loại thải sau 3 lứa.
  • Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng ở lợn nái mang thai:

    • Nhu cầu năng lượng và protein: Aherne và Kirwood (1985), Noblet và cs. (1990) đề xuất mức tăng khối lượng 45 kg trong thời kỳ mang thai (25 kg cơ thể mẹ và 20 kg bào thai/nhau thai) tương ứng với mức cung cấp 6 Mcal ME/ngày (ARC, 1981). Whittemore (1984, 1998) tính toán nhu cầu protein phát triển tuyến vú (cực đại 10 g/ngày) và tích lũy protein bào thai ở 34 ngày cuối thai kỳ là 65 g/ngày. Noblet và cs. (1993) chỉ ra nhu cầu cho lứa 1 đến lứa 4 có khối lượng phối 104, 136, 152, 163, 172 kg tương ứng là 10,9; 10,7; 9,9; 9,9; 9,9 g lysine/ngày.
    • Tác động của mức lysine khẩu phần: Yang và cs. (2009) cho biết khẩu phần 0,8% lysine so với 0,6% lysine từ ngày chửa thứ 80 làm tăng khối lượng lợn nái, mỡ lưng và khối lượng toàn ổ sơ sinh. Zhang và cs. (2011) kết luận mức lysine 0,65% là tối ưu cho nái mang thai nhiều lứa, nâng cao khối lượng sơ sinh và chất lượng sữa non so với mức 0,45% hoặc khuyến cáo NRC (1998). Diogo và cs. (2013) ghi nhận mức 28 g lysine/ngày từ ngày 85 đến 110 của thai kỳ giúp giảm thai chết lưu và giảm biến động khối lượng ổ đẻ. Ngược lại, Cooper và cs. (2001) cho rằng mức lysine 0,44% và 0,55% không làm thay đổi khối lượng và mỡ lưng lợn mẹ.
  • Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và phương thức cho ăn ở lợn nái nuôi con:

    • Cân bằng axít amin và năng lượng: Noblet và Etienne (1987, 1989) đưa ra công thức tính năng lượng tiết sữa dựa trên tăng khối lượng trung bình ngày (ADG) của lợn con và quy mô ổ đẻ. Shi và cs. (2015) xác định mức lysine tiêu hóa hồi tràng tối thiểu 0,85% trong khẩu phần 3325 kcal ME/kg giúp tối ưu hóa khả năng nuôi con và rút ngắn thời gian lên giống lại. Xue và cs. (2012) xác định tỷ lệ lysine/năng lượng tối ưu cho nái nuôi con là 2,65 - 2,66 g/Mcal. Camilla và cs. (2019) ghi nhận ở mức 3356 kcal ME/kg, tỷ lệ 0,81% Lys tiêu hóa tối ưu hóa tăng trưởng lợn con, trong khi mức 0,91% giúp giảm hao mòn khối lượng lợn mẹ.
    • Phương thức cho ăn: Whitney (2010) và Oliveras (2019) khuyến nghị chia khẩu phần nuôi con thành 3 đến 4 bữa/ngày. Choi và cs. (2019) chứng minh cho ăn 4 lần/ngày trên nái F1(LY) làm tăng lượng thức ăn ăn vào (5,47 so với 5,14 kg/ngày) và khối lượng cai sữa toàn ổ (74,34 so với 70,50 kg). Baudon và Hancock (2003) cùng Mavromichalis (2007) chỉ ra thức ăn dạng viên nâng cao tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein và năng lượng, giảm rơi vãi và giảm hao hụt mỡ lưng lợn mẹ.
  • Nghiên cứu trong nước:

    • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1547:2007 mới chỉ quy định hàm lượng axít amin tổng số, chưa tính theo axít amin tiêu hóa hồi tràng biểu kiến hay chuẩn.
    • Trần Thị Bích Ngọc (2014) và Đoàn Vĩnh (2014) xác định nhu cầu năng lượng và axít amin tiêu hóa cho lợn hậu bị thuần và lai tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Lã Văn Kính (2002, 2003) nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho nái ngoại mang thai và nuôi con (khẩu phần 18% protein, 0,95% lysine). Phạm Ngọc Thảo và cs. (2020) xác định mức 3300 kcal ME/kg và 0,85% lysine tiêu hóa hồi tràng chuẩn là thích hợp cho nái nuôi con lứa 3, giảm hao mòn thể trạng xuống 23,3 kg/nái và rút ngắn thời gian chờ phối còn 4,5 ngày.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu thực hiện đơn lẻ trên từng giai đoạn hoặc trên các giống lợn cũ có năng suất dưới 22 lợn con cai sữa/nái/năm. Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu về tỷ lệ Lys TH/ME đồng bộ xuyên suốt chu kỳ sản xuất (hậu bị, mang thai, nuôi con) trên tổ hợp lai F1(LY) có tiềm năng di truyền cao, đồng thời kiểm chứng tương tác giữa tỷ lệ dưỡng chất và phương thức cho ăn (dạng thức ăn, số lần ăn) trong cả hai điều kiện chuồng kín và chuồng hở.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Phân đoạn hệ thống năng lượng: Năng lượng thô (Gross Energy - GE), Năng lượng tiêu hóa (Digestive Energy - DE), Năng lượng trao đổi (Metabolic Energy - ME), Năng lượng nhiệt (Heat Increment - HI) và Năng lượng thuần (Net Energy - NE). Tỷ lệ sử dụng năng lượng theo mô hình Manzanilla (2014) được mô tả: $$\text{GE (100%)} \rightarrow \text{DE (80%)} \rightarrow \text{ME (76%)} \rightarrow \text{NE (58%)}$$ Trong đó năng lượng duy trì chiếm 38% và năng lượng tích lũy thịt chiếm 20%.
  • Nhu cầu năng lượng duy trì: Tính theo công thức của NRC (1998): $$\text{ME}_{\text{duy trì}} = 106 \text{ kcal ME/kg BW}^{0,75} \quad (\text{hoặc } 110 \text{ kcal DE/kg BW}^{0,75})$$
  • Ước tính năng lượng tiết sữa: Sử dụng phương trình của Noblet và Etienne (1987, 1989): $$\text{GE}{\text{tiết sữa}} = (4,92 \times \text{ADG} \times \text{số con}) - (90 \times \text{số con})$$ $$\text{ME}{\text{cho sữa}} = (6,83 \times \text{ADG} \times \text{số con}) - (125 \times \text{số con})$$ Hiệu quả chuyển hóa năng lượng khẩu phần thành năng lượng sữa đạt 0,72; chuyển hóa từ nguồn mỡ cơ thể đạt 0,88.
  • Nhu cầu protein duy trì: Tính theo Whittemore (1998): $$\text{Protein}_{\text{duy trì}} = 0,15 \text{ g N} \times \text{W}^{0,75}$$
  • Khái niệm protein lý tưởng: Sử dụng lysine làm axít amin quy chuẩn (100%), cân đối tỷ lệ các axít amin thiết yếu khác (methionine, threonine, tryptophan, valine, isoleucine, leucine) theo tỷ lệ phần trăm tương ứng nhằm tối ưu hóa hiệu quả tổng hợp protein và giảm bài tiết nitơ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm dinh dưỡng: Thực hiện các thí nghiệm nuôi dưỡng so sánh các mức tỷ lệ Lys TH/ME trên lợn nái F1(LY) qua các giai đoạn sinh trưởng và sinh sản trong hai điều kiện chuồng kín và chuồng hở.
  • Phương pháp thử nghiệm phương thức cho ăn: So sánh hiệu quả giữa thức ăn dạng viên và dạng bột; so sánh tần suất cho ăn 2 lần, 3 lần và 4 lần/ngày trong giai đoạn nuôi con.
  • Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
    • Sinh trưởng hậu bị: Khối lượng cơ thể, tăng khối lượng bình quân ngày (ADG), độ dày mỡ lưng tại các thời điểm 30 kg, 60 kg, 90 kg và khi phối giống lần đầu, tuổi động dục và tuổi phối giống lần đầu.
    • Năng suất sinh sản: Số lợn con đẻ ra/ổ, số con sơ sinh còn sống/ổ, khối lượng sơ sinh từng con và cả ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa từng con và cả ổ, tỷ lệ chết trước cai sữa.
    • Thể trạng lợn mẹ: Khối lượng và mỡ lưng lợn mẹ lúc vào đẻ và lúc cai sữa, tỷ lệ hao mòn khối lượng và mỡ lưng trong kỳ nuôi con, khoảng cách từ cai sữa đến khi động dục trở lại.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra hiện trạng cơ cấu đàn nái, năng suất sinh sản và chế độ dinh dưỡng tại các trang trại thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu thực nghiệm thu thập trực tiếp trên đàn lợn thí nghiệm F1(LY).
  • Dữ liệu khảo sát từ các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam.
  • Các hệ thống tiêu chuẩn dinh dưỡng tham chiếu: NRC (1998, 2012), US Pork Center of Excellence (2010), Đan Mạch (2008, 2010), TCVN 1547:2007.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật các cơ sở khoa học về trao đổi chất, tiêu chuẩn dinh dưỡng và thực trạng sản xuất:

1. Nhu cầu năng lượng, protein và axít amin của lợn

  • Hệ thống năng lượng: Trình bày chi tiết cơ chế chuyển hóa từ GE sang DE, ME và NE. Phân tích ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường: ở nhiệt độ dưới $20^\circ\text{C}$, nái mang thai cần bổ sung 240 kcal ME/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ giảm; nái nuôi con cần ăn thêm 310 kcal ME (323 kcal DE)/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ thấp hơn $20^\circ\text{C}$ và giảm ăn 310 kcal ME/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ cao hơn $20^\circ\text{C}$ (NRC, 1998).
  • Phát triển cơ quan tiêu hóa: Dung tích dạ dày lợn từ 25 ml lúc sơ sinh tăng lên 3,5 - 4 lít khi trưởng thành (NRC, 2012). Hoạt tính enzyme amylase tăng 24%, lipase tăng 1,9 lần theo tuổi, trong khi trypsin giảm dần để đáp ứng quá trình tích lũy mỡ và chuyển hóa protein (NRC, 1998).
  • Yếu tố ảnh hưởng: Phân tích vai trò của giống (dòng cao sản hướng nạc đòi hỏi mức Lys TH/ME cao hơn), dinh dưỡng (cân bằng axít amin, ảnh hưởng bất lợi của chất kháng dinh dưỡng như glucosinolate, chất ức chế trypsin, phytate; vai trò của chất xơ NDF, NSP) và vi khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ tới hạn dưới là $23 - 24^\circ\text{C}$ ở lợn 25 kg và $15^\circ\text{C}$ ở lợn 100 kg; stress nhiệt làm giảm 1 - 2% lượng thức ăn thu nhận cho mỗi $1^\circ\text{C}$ vượt ngưỡng tới hạn trên).

2. Năng suất sinh sản của lợn nái

  • Phân tích chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm và các nhân tố chi phối: lứa đẻ (năng suất đạt đỉnh ở lứa 2 - 5), lượng thức ăn thu nhận trong thời kỳ tiết sữa, thời gian tiết sữa, khoảng cách chờ phối sau cai sữa và tuổi phối giống lần đầu của hậu bị (tối ưu ở mức ~240 ngày tuổi, 130 - 140 kg).

3. Tiêu chuẩn dinh dưỡng quốc tế và Việt Nam

Luận án tổng hợp bảng so sánh các tiêu chuẩn dinh dưỡng của lợn nái trên thế giới và tiêu chuẩn Việt Nam:

Chỉ tiêu Lợn con (6-9 kg) Lợn con (9-30 kg) Hậu bị (30-60 kg) Hậu bị (60 kg-PG) Nái mang thai Nái nuôi con
NRC (1998)
Protein (%) 23,7 20,9 18,0 13,2 - 15,5 12,0 - 12,9 16,3 - 19,2
ME (kcal/kg) 3265 3265 3265 3265 3265 3265
Lysine tổng số (%) 1,35 1,15 0,95 0,60 - 0,76 0,52 - 0,58 0,82 - 1,03
Lysine tiêu hóa (%) 1,11 0,94 0,77 0,47 - 0,61 0,40 - 0,45 0,71 - 0,90
NRC (2012)
ME (kcal/kg) 3400 3300 3300 3300 3300 3300
Lysine tổng số (%) 1,53 - 1,70 1,12 - 1,40 0,74 - 0,99 0,40 - 0,80 0,83 - 1,20 -
Lysine tiêu hóa (%) 1,31 - 1,45 0,94 - 1,19 0,60 - 0,83 0,30 - 0,57 0,68 - 0,83 -
US Pork Center (2010)
ME (kcal/kg) - - 3344 3344 3300 3300
Lysine tổng số (%) - - 1,04 - 1,15 0,73 - 1,01 0,60 - 0,70 0,90 - 1,13
Lys TH hồi tràng chuẩn (%) - - 0,93 - 0,98 0,63 - 0,88 0,52 - 0,60 0,76 - 1,00
Tỷ lệ Lys TH/ME (g/Mcal) - - 2,39 - 2,92 1,88 - 2,63 1,57 - 1,82 2,30 - 3,02
Close và cs. (2004)
ME (kcal/kg) - - 3250 3100 3000 3250
Lysine tổng số (%) - - 1,20 0,80 0,47 - 0,70 0,77 - 0,88
Danish Pig Prod. (2008)
Protein (%) 20,06 18,95 15,0 14,5 11,0 13,0
ME (kcal/kg) 3440 3370 3200 3200 3010 3180
Lysine tiêu hóa (%) 1,30 1,22 0,82 0,74 0,33 0,64
Tỷ lệ Lys TH/ME (g/Mcal) 3,78 3,62 2,56 2,31 1,09 2,01

Đối với tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1547:2007, các mức quy định tối thiểu về dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp cho lợn nái gồm:

  • Lợn nái mang thai: ME $\ge 2800$ kcal/kg; Protein thô $\ge 13,0%$; Lysine tổng số $\ge 0,50%$; Methionine $\ge 0,13%$; Methionine + Cystein $\ge 0,35%$; Canxi 0,75 - 1,05%; Phốt pho tổng số $\ge 0,60%$.
  • Lợn nái nuôi con: ME $\ge 3000$ kcal/kg; Protein thô $\ge 15,0%$; Lysine tổng số $\ge 0,80%$; Methionine $\ge 0,20%$; Methionine + Cystein $\ge 0,40%$; Canxi 0,80 - 1,10%; Phốt pho tổng số $\ge 0,60%$.

4. Thực trạng năng suất sinh sản và sử dụng thức ăn tại Việt Nam

Dẫn liệu khảo sát của Trần Thị Bích Ngọc (2019) tại các trang trại ba miền cho thấy:

Chỉ tiêu khảo sát Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Trung bình / Chung
Tỷ lệ lợn cái hậu bị trong đàn (%) 21,0 19,0 29,5 -
Tỷ lệ nái lai Landrace x Yorkshire (%) 91,24 - 98,98 91,24 - 98,98 91,24 - 98,98 -
Tuổi động dục lần đầu (tháng) 6,7 6,0 6,0 -
Đực phối giống (Duroc và PiDu) (%) - - - 86,63
Số lợn con sơ sinh sống (con/ổ) 11,32 11,08 10,45 -
Số lợn con cai sữa (con/ổ) 10,64 10,20 9,64 -
Tuổi cai sữa trung bình (ngày) 23,5 24,2 25,9 24,5
Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 142,0 146,0 - 148,0 146,0 - 148,0 145,8
Tỷ lệ loại thải nái hàng năm (%) 22,4 18,7 19,2 20,1
Số lứa đẻ bình quân (lứa/nái/năm) - - - ~2,3

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Xác định tỷ lệ Lys TH/ME chuẩn hóa cho lợn nái F1(LY): Luận án đã xác định được hệ thống tỷ lệ lysine tiêu hóa trên năng lượng trao đổi thích hợp cho lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) áp dụng trong cả hai điều kiện chuồng kín và chuồng hở:
    • Giai đoạn hậu bị từ 30 đến 60 kg: 2,81 g/Mcal;
    • Giai đoạn hậu bị từ 60 kg đến phối giống lần đầu: 2,44 g/Mcal;
    • Giai đoạn nái mang thai: 1,96 g/Mcal;
    • Giai đoạn nái nuôi con: 2,75 g/Mcal.
  2. Xác định phương thức cho ăn tối ưu cho nái nuôi con: Xác định chế độ cho lợn nái nuôi con ăn 4 lần/ngày kết hợp sử dụng thức ăn dạng viên giúp nâng cao lượng thức ăn thu nhận, giảm hao mòn khối lượng cơ thể mẹ và nâng cao khối lượng lợn con lúc cai sữa ở cả phương thức nuôi chuồng kín và chuồng hở.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ứng dụng các mức tỷ lệ Lys TH/ME nêu trên vào quy trình sản xuất thức ăn công nghiệp và khẩu phần hỗn hợp tại các trang trại nuôi lợn nái lai F1(LY).
  • Áp dụng kỹ thuật cho ăn 4 bữa/ngày bằng thức ăn dạng viên cho nái nuôi con để tối ưu hóa năng suất sữa và tăng khối lượng cai sữa của đàn con.
  • Cập nhật tiêu chuẩn dinh dưỡng quốc gia theo hướng bổ sung chỉ tiêu axít amin tiêu hóa hồi tràng thay cho axít amin tổng số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Các kết quả thực nghiệm tập trung chuyên biệt trên tổ hợp lai F1 giữa hai giống Landrace và Yorkshire (F1(LY)), chưa mở rộng trên các dòng giống nái thuần chủng cao sản hoặc các tổ hợp lai ba, bốn giống khác mới nhập khẩu.
  • Chưa đi sâu phân tích động thái bài tiết nitơ chi tiết và các chỉ số sinh hóa máu ở từng mốc chu kỳ sinh sản.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục khảo nghiệm xác định tỷ lệ Lys TH/ME và nhu cầu các axít amin thiết yếu khác (threonine, methionine, tryptophan, valine) trên các giống nái thuần Landrace và Yorkshire nhập khẩu thế hệ mới từ Đan Mạch, Pháp, Canada, Mỹ.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tương tác giữa khẩu phần dinh dưỡng với các giải pháp quản lý tiểu khí hậu nhằm giảm thiểu tác động của stress nhiệt trong chăn nuôi nái sinh sản tại các vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm.

Giá trị tham khảo

Đối tượng sử dụng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Ngành Chăn nuôi, Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi, Thú y sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu chuyên sâu về trao đổi chất và dinh dưỡng gia súc sinh sản.
  • Giảng viên và nhà khoa học: Tham khảo số liệu thực nghiệm để phục vụ giảng dạy, biên soạn giáo trình và thiết kế các đề tài nghiên cứu tiếp theo.
  • Kỹ sư dinh dưỡng tại các nhà máy thức ăn chăn nuôi: Sử dụng bộ thông số tỷ lệ Lys TH/ME để tối ưu hóa công thức thức ăn hỗn hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng của lợn nái.
  • Chủ trang trại và cán bộ kỹ thuật: Áp dụng phương thức cho ăn 4 bữa/ngày và thức ăn dạng viên nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và năng suất đàn nái.

Nội dung đáng tham khảo

  • Khung tỷ lệ Lys TH/ME định lượng cụ thể qua 4 giai đoạn sinh trưởng và sinh sản.
  • Bảng tổng hợp đối chiếu các tiêu chuẩn dinh dưỡng quốc tế (NRC 1998, 2012; Danish Pig Production; US Pork Center).
  • Dữ liệu thực trạng năng suất sinh sản của đàn nái ngoại tại ba miền sinh thái của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ Lys TH/ME thích hợp cho lợn nái F1(LY) qua từng giai đoạn được xác định là bao nhiêu?

Tỷ lệ Lys TH/ME thích hợp cho lợn nái F1(LY) trong cả điều kiện chuồng kín và chuồng hở lần lượt là: 2,81 g/Mcal (hậu bị 30 - 60 kg); 2,44 g/Mcal (hậu bị 60 kg đến phối giống lần đầu); 1,96 g/Mcal (nái mang thai); và 2,75 g/Mcal (nái nuôi con).

2. Phương thức cho ăn nào giúp cải thiện khối lượng cai sữa của lợn con trong giai đoạn nuôi con?

Phương thức cho lợn nái nuôi con ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn dạng viên giúp tối đa hóa lượng thức ăn thu nhận, nâng cao sản lượng sữa, giảm hao mòn cơ thể lợn mẹ và nâng cao khối lượng lợn con cai sữa trong cả điều kiện chuồng kín và chuồng hở.

3. Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu năng lượng của lợn nái theo tài liệu tổng quan?

Theo NRC (1998), với nhiệt độ chuẩn $20^\circ\text{C}$, nái mang thai (thể trọng 200 kg) cần bổ sung 240 kcal ME/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ nhiệt độ dưới $20^\circ\text{C}$. Đối với nái nuôi con, lợn cần ăn thêm 310 kcal ME/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ dưới $20^\circ\text{C}$ và giảm ăn 310 kcal ME/ngày cho mỗi $1^\circ\text{C}$ cao hơn $20^\circ\text{C}$.

4. Khảo sát thực trạng tại Việt Nam ghi nhận năng suất sinh sản của nái lai F1(LY) giữa các miền khác nhau như thế nào?

Theo khảo sát của Trần Thị Bích Ngọc (2019), số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ ở miền Bắc đạt cao nhất (11,32 và 10,64 con), tiếp đến là miền Trung (11,08 và 10,20 con) và thấp nhất ở miền Nam (10,45 và 9,64 con). Tuổi cai sữa trung bình tại ba miền tương ứng là 23,5; 24,2 và 25,9 ngày; khoảng cách lứa đẻ trung bình là 145,8 ngày.

5. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1547:2007 quy định mức ME và protein tối thiểu cho nái mang thai và nuôi con là bao nhiêu?

Theo TCVN 1547:2007, mức tối thiểu cho lợn nái mang thai là 2800 kcal ME/kg, 13,0% protein thô và 0,50% lysine tổng số. Mức tối thiểu cho lợn nái nuôi con là 3000 kcal ME/kg, 15,0% protein thô và 0,80% lysine tổng số.


Kết luận

Luận án đã giải quyết vấn đề khoa học về cân đối dinh dưỡng trên đàn lợn nái lai F1(LY) tại Việt Nam thông qua việc xác định chính xác tỷ lệ Lys TH/ME cho 4 giai đoạn sinh trưởng và sinh sản. Công trình cũng xác lập cơ sở thực nghiệm cho phương thức cho ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn dạng viên trong giai đoạn nuôi con nhằm giảm hao mòn cơ thể mẹ và nâng cao khối lượng cai sữa của đàn con. Các kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu định lượng có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác xây dựng khẩu phần và tổ chức chăn nuôi lợn nái trang trại trong điều kiện chuồng kín và chuồng hở.