Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của luận án Trong nhiều năm qua, bệnh Gumboro là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tại nhiều địa phương ở nước ta. Ngày nay, bệnh Gumboro có nhiều biến chủng khác nhau nhưng đều thuộc về serotype I và II, trong đó serotype I có mức độ độc lực và tính gây bệnh cao (OIE, 2008). Tại Việt Nam, bệnh Gumboro được chính thức phát hiện từ những năm 1980 dựa vào triệu chứng lâm sàng, bệnh tích, dịch tễ học. Nhiều phân lập IBDV với kiểu gene khác nhau và kiểu hình đa dạng cùng tồn tại đã làm cho diễn biến của bệnh này trở nên phức tạp hơn và khó đạt được hiệu quả phòng chống bệnh bằng tiêm chủng vaccine (Nguyễn Bá Thành và ctv, 2007; Lê Thị Kim Xuyến và Lê Thanh Hòa, 2008; Hồ Thị Việt Thu, 2012a).
Nghiên cứu của Hồ Thị Việt Thu (2012a), cho rằng bệnh Gumboro thường xảy ra ở các đàn không được tiêm vaccine (70,0%), kế đến là các gà chỉ được tiêm vaccine một lần (62,5%) và gà được tiêm vaccine 2 lần (28,6%). Virus Gumboro có hệ gene RNA (ribonucleic acid) gồm hai sợi dương (dsRNA) cuộn tròn được phân làm hai đoạn riêng biệt, thuộc họ Birnaviridae. Hai phân đoạn trong hệ gene của virus Gumboro là phân đoạn A và phân đoạn B, đều mang thông tin di truyền và có nhiệm vụ sinh tổng hợp 5 loại protein từ VP1 đến VP5 (VP = viral protein), đó là VP1, VP2, VP3, VP4, VP5 (Tacken et al. VP2 có độ bảo tồn cao về thành phần nucleotide ở hai đầu 5’ và 3’, nhưng lại có một vùng khoảng 500 nucleotide ở giữa của gene có sự biến đổi ở các chủng khác nhau, gọi là vùng “siêu biến đổi” (hypervariable region) (Yuwen et al.
Vùng này có 120 - 150 amino acid mà ở đó có một số amino acid quan trọng, chúng là các amino acid khung cấu tạo nên nhóm quyết định kháng nguyên và độc lực. Nếu không đồng nhất về thành phần khung nhóm quyết định kháng nguyên, kháng nguyên vaccine sử dụng có thể kích thích sinh kháng thể với hàm lượng cao nhưng kháng thể này không thể hoặc không hoàn toàn trung hòa được chủng virus gây bệnh khác vì không có vị trí kết hợp kháng nguyên - kháng thể tương ứng do sai lệch về nhóm quyết định kháng nguyên của vaccine với chủng gây bệnh, như vậy mặc dù đàn gà được tiêm vaccine nhưng bệnh vẫn xảy ra (Letzel et al. Tại Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng virus Gumboro rất đa dạng và phức tạp do chúng ta nhập khẩu con giống từ nhiều nước khác nhau trên thế giới. Ngoài ra, phân lập IBDV với kiểu gene khác nhau và kiểu hình đa dạng cùng tồn tại đã làm cho diễn biến của bệnh này trở nên phức tạp hơn và khó đạt được hiệu 1 luan an quả phòng chống bệnh bằng tiêm chủng vaccine.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu bệnh Gumboro trên gà tại một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định sự lưu hành của virus Gumboro trên gà nuôi ở quy mô trang trại, hộ gia đình tại ĐBSCL. Các yếu tố có liên quan như giống gà, lứa tuổi, số lần sử dụng vaccine, hình thức chăn nuôi, số gà chết,… và một số đặc điểm lâm sàng trên đàn gà nghi bệnh. - Xác định đặc tính di truyền của virus Gumboro được phân lập tại ĐBSCL. Tiến hành so sánh gene mã hóa vùng VP2 với ngân hàng gene, các chủng vaccine hiện có trên thị trường và xây dựng cây phả hệ của các mẫu virus thực địa - Khảo sát tỉ lệ đáp ứng miễn dịch và sự khác biệt đáp ứng miễn dịch của 3 loại vaccine Gumboro trên 2 giống (gà nòi Bến Tre và gà Lương Phượng).3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Bệnh Gumboro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra trên gia cầm (chủ yếu ở gà và gà tây), được xem là một bệnh cổ điển của ngành chăn nuôi gà.
Có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh, virus gây bệnh và vaccine phòng bệnh nhưng bệnh vẫn bùng phát. Sự suy giảm miễn dịch đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả phòng bệnh của nhiều chương trình phòng vaccine trên đàn gà và đồng thời làm tăng tính mẫn cảm của đàn gà đối với những căn nguyên gây bệnh cơ hội khác. Nhiều bằng chứng cho thấy đàn gà bị nhiễm IBDV có thể trở thành vật chủ lan truyền các virus gây bệnh khác (Phạm Hồng Sơn và ctv, 2012; Hồ Thị Việt Thu, 2012a). Các báo cáo gần đây cho thấy IBDV tiếp tục là một nguyên nhân hàng đầu gây ra những thiệt hại kinh tế đáng kể trong ngành công nghiệp gia cầm.
Nhiều phân lập IBDV với kiểu gene khác nhau và kiểu hình đa dạng cùng tồn tại đã làm cho diễn biến của bệnh này trở nên phức tạp hơn và khó đạt được hiệu quả phòng chống bệnh bằng tiêm chủng vaccine (Nguyễn Bá Thành và ctv, 2007; Lê Thị Kim Xuyến và Lê Thanh Hòa, 2008; Hồ Thị Việt Thu, 2012a). Việc phòng chống IBDV hiệu quả sẽ góp phần nâng cao sức khỏe tổng thể đàn gà đồng thời làm giảm thiệt hại về kinh tế. Nghiên cứu tạo vaccine dựa trên trình tự nucleotide của hệ gene virus Gumboro phân lập tại thực địa đã được tiến hành trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tại khu vực ĐBSCL cho đến thời điểm hiện 2 luan an tại thông tin về giải mã phân đoạn VP2 của virus Gumboro phân lập được còn nhiều hạn chế.
Do vậy, việc giải trình tự nucleotide virus Gumboro phân lập được tại thực địa góp phần xác định mức độ độc lực, lựa chọn vaccine phù hợp giúp việc phòng bệnh Gumboro cho đàn gà góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm là cần thiết.4 Điểm mới của đề tài Bằng việc thu thập các chủng virus gây bệnh Gumboro thực địa tại một số tỉnh/ thành vùng ĐBSCL, so sánh sự biến đổi về thành phần gene, tính kháng nguyên và độc lực, nguồn gốc và mối quan hệ phả hệ của các chủng virus, sẽ giúp chúng ta có thể lựa chọn các chủng vaccine phù hợp để phòng bệnh một cách hiệu quả. Đồng thời, góp phần thiết lập một cơ sở khoa học chắc chắn cho việc phát triển chiến lược phòng bệnh IBD ở ĐBSCL nói riêng và bảo vệ sức khỏe đàn gà ở nước ta nói chung. 3 luan an Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược lịch sử phát hiện virus Gumboro Năm 1962, Cosgrove đã phát hiện và mô tả một bệnh mới xuất hiện trên gà ở thành phố Gumboro, vùng Dalaware ở Hoa Kỳ. Bệnh thường thấy trên gà con với bệnh tích thường gặp chủ yếu ở thận và túi Fabricius.
Ban đầu, người ta cho rằng bệnh là biến thể của bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) vì bệnh tích ở thận tương đối giống nhau. Khi đó người ta gọi là bệnh hư thận trên gà do triệu chứng không tái hấp thu được nước tiểu, làm gà tiêu chảy rất nặng, gây mất nước. Sau này, Winterfield và Hitchner đã chứng minh rằng những con gà đã miễn dịch với IB vẫn nhiễm bệnh viêm túi Fabricius. Cuối năm 1962, Winterfield và Hitchner đã phân lập được từ phôi trứng tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở gà (bệnh phẩm lấy ở túi Fabricius và thận).
Năm 1986-1987, lần đầu tiên những dòng biến thể của IBDV được công bố. Năm 1970, Hitchner đề nghị tên chính thức cho bệnh này là Infectious Bursal Disease (IBD) hay còn gọi là bệnh Gumboro trên gà. Virus gây bệnh là Infectious Bursal Disease Virus (IBDV). Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào năm 1981 ở một số trại nuôi gà công nghiệp thuộc các tỉnh phía Bắc, nhưng chưa được chú ý, vào các năm 1987-1993 bệnh phát triển rất mạnh gây chết rất nhiều gà, từ đó gây được sự chú ý cho các nhà chuyên môn.
Nhiều biện pháp phòng bệnh đã được nghiên cứu nhưng đến ngày nay việc khống chế bệnh vẫn còn nhiều hạn chế.2 Hình thái, cấu trúc và phân loại virus gây bệnh Gumboro IBDV là một virus có kích thước không lớn, khoảng 58 - 60 nm, dạng hình khối đa diện cấu trúc đối xứng 20 mặt (Dobos et al. IBDV có cấu trúc mạch đôi RNA cuộn tròn và được phân thành 2 đoạn riêng biệt, nó thuộc loài Avibirnavirus của họ Birnaviridae (Leong et al. Quanh nhân là vỏ protein (vỏ capsid). Lớp capsid này được hợp thành bởi 32 capsomer (đơn vị hình thái).
Mỗi capsomer được tạo bởi 5 loại protein cấu trúc khác nhau: VP1, VP2, VP3, VP4 và VP5. Trong nguyên sinh chất của tế bào bị nhiễm, quan sát dưới kính hiển vi điện tử thấy tập hợp virus Gumboro xếp đều đặn cạnh nhau (Hình 2. IBDV không có vỏ bọc ngoài cùng (envelop) chỉ gồm nhân chứa ribonucleic acid (RNA) và bao quanh hệ gene là lớp vỏ protein hay còn gọi là capsid. Vỏ capsid có 32 đơn vị hình thái, mỗi một đơn vị hình thái là capsomer đan chéo nhau tạo thành (Hirai et al.
Mỗi capsomer được tạo thành bởi 5 loại protein khác nhau. Các nucleotide trong ribonucleic acid (RNA) của virus Gumboro được xếp thành đôi cuộn tròn và phân làm hai đoạn riêng biệt là đặc điểm đặc trưng của loại virus này. Do vậy, theo sự phân loại mới nhất hiện nay IBDV được xếp vào nhóm virus có chứa RNA và là thành viên đại diện đầu tiên của nhóm Avibirnavirus (Leong et al.1: Cấu trúc của hạt IBDV dưới kính hiển vi điện tử (nguồn: www.2: Virus Gumboro tập hợp thành từng cụm nằm trong tế bào lympho B (nguồn: www.3 Tính chất và cơ chế gây bệnh của IBDV Trong tự nhiên: gà nhà và gà tây là hai loài mẫn cảm với virus Gumboro, trong đó type I gây bệnh cho gà nhà và type II gây bệnh cho gà tây. Người ta cũng tìm thấy IBDV ở gà Nhật và chim bồ câu sống hoang dã ở Châu Phi (Kasanga et al.
Một số loài chim hoang dã như vịt trời, ngỗng trời, chim ác là, cũng có thể bị nhiễm virus Gumboro, bị bệnh và chết. Virus Gumboro phân lập từ 5 luan an những loài chim hoang dã này có thể gây bệnh trở lại cho gà mẫn cảm, gây chết tới 60% và làm teo túi Fabricius (Jeon et al. Trong phòng thí nghiệm: virus chỉ có khả năng gây bệnh trên gia cầm mẫn cảm (gà 2 - 6 tuần tuổi), phôi gà hoặc môi trường tế bào xơ phôi gà mà không có khả năng gây bệnh trên các động vật cảm thụ phòng thí nghiệm (Kasanga et al.