Chương 1 TỎNG QUAN 1. Giới thiệu về bệnh ND 1. Tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở Việt Nam Bệnh ND lần đầu tiên được báo cáo từ Indonesia vào năm 1926 và ở New Castle Upon Tyne ở Anh vào năm 1927 (Kraneveld, 1926) và cũng là tác giả đầu tiên chứng minh được tính kháng nguyên của virus này khác với virus dịch tả gà cô điển và đặt tên là NDV. và các báo cáo về sự bùng phát ND ở Hàn Quốc, An Độ, SriLanka, Nhật Bản, Úc và Philippines (Albiston và Gorrie, 1942).
Năm 1952, bệnh được báo cáo ở Palestine, Syria, Congo của Pháp (ngày nay là Gabon, Cộng hòa Congo và Cộng hòa Trung Phi), đảo Sicily, Châu Âu và Hoa Kỳ. Năm 1960, ND đã được báo cáo ở Hawaii, Canada, Mexico, Trung, Nam Mỹ, Trung Quốc và khắp châu Au (Xie va ctv, 2012) với nhiều đợt dich bùng phát được báo cáo. Từ 1998 đến 2002, nhiều đợt dịch bệnh ND đã bùng phát được báo cáo ở Úc (Westbury, 2001). Năm 2011, một ô dịch NDV được báo cáo từ Israel (Haddas, 2013).
ND cũng được báo cáo từ Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Côte d’Ivoire va Nigeria vào nam 2013 (Snoeck và ctv, 2013). Vào năm 2014, dịch ND trên ga cũng được báo cáo từ Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Campuchia (Choi và ctv, 2014). Theo Dimitrov và ctv (2017), từ năm 2013 đến năm 2015, hàng năm có trung bình 60 quốc gia báo cáo có xảy ra dịch do NDV gây ra. Tại Việt Nam, ND trên gia cầm đã xuất hiện từ lâu.
Tuy nhiên, đến năm 1950, Jacotot đã chứng minh có NDV tại Việt Nam. Năm 1960, vaccine virus sống, nhược độc, đông khô phòng ND được tô chức thực hiện trên một số đàn gà tại một số địa phương (Trần Đình Từ, 1985). Nguyễn Bá Huệ và Nguyễn Thu Hồng (1986) đã xác định NDV gây ra những trận dịch lớn năm 1970 ở nông trường An Khánh, và năm 1974 ở Đông Anh, Hà Nội, Hải Phòng là do chủng virus ND độc lực cao. Theo OIE (2011), trong năm 2010 tại Việt Nam có tong cộng khoảng 1.211 6 dich do NDV gay ra.
Cho đến nay, ngoài dich cúm gia cầm, ND van còn xảy ra phô biến và gây những thiệt hại kinh tế đáng kể trong ngành chăn nuôi gà (Cục Thú y, 2020). HER outbreaks after2000 9} 2. TS outbreaks before 2000 Hình 1. Sự phân bố của ND trên thế giới (Ganar va ctv, 2014) 1.
Căn bệnh học Theo Lamb và Parks (2007), virus gây ND trên gia cầm thuộc họ Paramyxoviridae, họ phụ Paramyxovirinae, giỗng Avian orthoavulavirus, loài NDV hay avian paramyxo virus 1 (APMV-1). Virus gây ND trên gia cầm là virus ARN sợi don âm. có vỏ bọc, có đường kính khoảng 100-500 nm, còn các dang sợi có bề ngang khoảng 100 nm với chiều dai thay đổi mỗi khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Virus có bộ gen không phân đoạn, và trọng lượng phân tử thay đổi tùy theo vùng trên thế giới, tuy nhiên có ba nhóm cấu trúc chính là: 15.
NDV có 10 serotype đã được công nhận và ký hiệu từ APMV-1 đến APMV- 10 (OIE, 2012). Trong số này APMV-I là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất đối với gia cầm, nhưng APMV-2, APMV-3, APMV-6 và APMV-7 cũng có vai trò gây bệnh nhất định. Các chủng NDV độc lực cao pho biến ở nhiều nước nhiệt đới va cận nhiệt đới (Spradbrow, 1990). Dựa trên cấu trúc di truyền, NDV được chia thành hai lớp (1) lớp I có một kiểu gen và (2) lớp II có 21 kiểu gen.
Virus được mã hóa bởi 6 protein cấu trúc bao gồm N hay NP (nucleocapsid), P (phosphoprotein), M (matrix protein), F (fusion protein), L (large polymerase protein) và HN (hemagglutinin-neuraminidase protein) (Chambers va ctv, 1982) (Hinh 1.