Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu bọ đuôi kìm Euborellia annulipes và ứng dụng trong nông nghiệp

Nghiên cứu thành phần bọ đuôi kìm trên rau cải bắp tại Hà Nội và Hưng Yên, đặc điểm sinh học, sinh thái và nhân nuôi trên đồng ruộng.

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2012

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu bọ đuôi kìm Euborellia annulipes

Nghiên cứu này tập trung vào Euborellia annulipes, một loài bọ đuôi kìm có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sâu hại trên rau cải bắp tại Hà Nội và Hưng Yên. Loài này được xác định là một thiên địch tiềm năng, có khả năng bắt mồi hiệu quả, giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng bọ đuôi kìm có thể góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững và an toàn thực phẩm.

1.1. Tầm quan trọng của bọ đuôi kìm trong nông nghiệp

Bọ đuôi kìm không chỉ là một loài thiên địch mà còn có khả năng kiểm soát các loài sâu hại như sâu tơ và rệp xám. Việc nghiên cứu và ứng dụng bọ đuôi kìm trong sản xuất rau cải bắp có thể giúp nông dân giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo nghiên cứu, bọ đuôi kìm có thể tiêu diệt một lượng lớn sâu hại trong thời gian ngắn, từ đó bảo vệ mùa màng hiệu quả.

II. Đặc điểm sinh học và sinh thái của Euborellia annulipes

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Euborellia annulipes có những đặc điểm sinh học và sinh thái độc đáo. Loài này có khả năng sinh sản cao và phát triển nhanh trong điều kiện môi trường thuận lợi. Thời gian phát triển của bọ đuôi kìm từ trứng đến trưởng thành thường dao động từ 30 đến 40 ngày, tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Điều này cho phép loài này có thể tái sản xuất nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu kiểm soát sâu hại trong mùa vụ.

2.1. Tập tính sống và môi trường sống

Bọ đuôi kìm thường sống trong các khu vực ẩm ướt, gần nguồn thức ăn như sâu hại và các loại côn trùng khác. Chúng có khả năng di chuyển linh hoạt và tìm kiếm thức ăn hiệu quả. Môi trường sống lý tưởng cho bọ đuôi kìm là những nơi có độ ẩm cao và nhiều tàn dư thực vật, giúp chúng dễ dàng ẩn nấp và sinh sản.

III. Phương pháp nhân nuôi và ứng dụng bọ đuôi kìm

Nghiên cứu đã phát triển một quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm Euborellia annulipes trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quy trình này bao gồm việc sử dụng các loại thức ăn tự nhiên như rệp xám và cám mèo, giúp tăng tỷ lệ sống sót và khả năng sinh sản của loài này. Việc nhân nuôi thành công bọ đuôi kìm sẽ tạo ra nguồn cung ứng ổn định cho nông dân trong việc kiểm soát sâu hại.

3.1. Quy trình nhân nuôi

Quy trình nhân nuôi bọ đuôi kìm được thực hiện trong các điều kiện kiểm soát, đảm bảo độ ẩm và nhiệt độ phù hợp. Sử dụng các dụng cụ đơn giản và chi phí thấp giúp nông dân dễ dàng áp dụng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nhân nuôi bọ đuôi kìm không chỉ hiệu quả mà còn tiết kiệm chi phí, từ đó khuyến khích nông dân áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về bọ đuôi kìm Euborellia annulipes đã chỉ ra rằng loài này có tiềm năng lớn trong việc kiểm soát sâu hại trên rau cải bắp. Việc áp dụng bọ đuôi kìm trong sản xuất nông nghiệp không chỉ giúp giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm. Khuyến nghị cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp nhân nuôi bọ đuôi kìm để ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp.

4.1. Đề xuất ứng dụng

Đề xuất cần có các chương trình đào tạo cho nông dân về quy trình nhân nuôi và ứng dụng bọ đuôi kìm trong sản xuất. Cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng để phát triển mô hình sản xuất an toàn, bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần bọ đuôi kìm bắt mồi trên rau cải bắp vùng hà nội và hưng yên đặc điểm sinh học sinh thái học của loài euborellia annulipes và nhân nuôi sử dụng chúng trên đồng ruộng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài Trong hệ sinh thái ñồng ruộng, giữa cây trồng, sâu hại và thiên ñịch luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong ñiều kiện nguồn thức ăn dồi dào các loài dịch hại thường phát sinh gây hại mạnh vì vậy người sản xuất có xu hướng gia tăng sử dụng thuốc BVTV ñể giữ năng suất cây trồng. Thói quen canh tác ấy ñã diễn ra hàng chục năm, hậu quả là thành phần và số lượng các loài ký sinh thiên ñịch giảm sút nghiêm trọng, không kiểm soát ñược dịch hại nữa. Dịch hại càng phát sinh mạnh, nông dân lại càng phải sử dụng thuốc BVTV nhiều hơn.

Nhiều biện pháp phòng chống sâu hại rau họ hoa thập tự không sử dụng thuốc hóa học ñã ñược nghiên cứu và ñưa vào sử dụng như ña dạng hóa giống cây trồng; sử dụng giống kháng; luân canh, xen canh với cây trồng khác ñể giảm nguồn dịch bệnh, ngắt quãng thời gian tích lũy số lượng của dịch hại; sử dụng thiên ñịch ñể kìm hãm sự gia tăng số lượng dịch hại ngay từ ñầu vụ. Tuy nhiên việc nông dân sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan trong một thời gian dài ñã làm suy giảm nguồn thiên ñịch, các biện pháp sinh học phòng chống sâu hại ít ñược nông dân áp dụng. ðã ñến lúc cần phải bảo vệ, khích lệ và nhân thả những loài thiên ñịch có ý nghĩa ñể dần lập lại cân bằng sinh thái trên ñồng ruộng. Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững thì biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) ñóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ cây trồng mà trong ñó biện pháp phòng trừ sinh học có một vị trí ñặc biệt (Nguyễn Văn Cảm, 1994) [3].

Nhện lớn bắt mồi, bọ rùa, ong ký sinh, bọ cánh cộc, ruồi ăn rệp. ñã ñược nhiều nhà khoa học nghiên cứu cho thấy hiệu quả phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự rõ rệt, chúng ñều ñã ñược ñưa vào các tài liệu giảng dạy chuyên ngành, ñặc biệt là chương trình huấn luyện IPM cho 20 nông dân. Sử dụng kiến vàng ñể phòng chống sâu hại cây có múi cũng ñược ứng dụng (Van Mele và Nguyễn Thị Thu Cúc, 2005) [41]. Những kết quả nghiên cứu cơ bản về bọ ñuôi kìm (bộ Dermaptera) và sử dụng chúng ñể phòng trừ sâu hại chưa nhiều, bước ñầu các nhà khoa học của Trường ðại học Cần Thơ ñã nghiên cứu và thử nghiệm thành công nhân thả bọ ñuôi kìm ñể phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn Thị Thu Cúc và cộng sự, 2008) [8], (Nguyễn Xuân Niệm, 2006a) [23].

Một số Trung tâm BVTV vùng thuộc Cục BVTV ñã bước ñầu thử nghiệm nhân thả bọ ñuôi kìm bắt mồi ñể phòng trừ sâu hại ñậu ñỗ, cây họ cà và rau họ hoa thập tự ñã cho hiệu quả ñáng khích lệ. Rau họ hoa thập tự trồng chủ yếu ở vùng ðồng bằng sông Hồng nên vấn ñề nhân thả thiên ñịch ở phía Bắc cũng cần ñược quan tâm nhiều hơn. Nhân thả một loài thiên ñịch ra ñồng ruộng phụ thuộc nhiều yếu tố như khả năng khống chế sâu, khả năng nhân nuôi số lượng lớn, khả năng duy trì quần thể. trong các yếu tố trên, hầu hết các loài thiên ñịch hiện nay ñã ñược nghiên cứu ñều cơ bản ñáp ứng ñược yêu cầu nhưng khả năng mở rộng mô hình mới là yếu tố quyết ñịnh việc loài ñó có ñược sử dụng rộng rãi hay không; qui trình nhân nuôi ong ký sinh khá phức tạp, cần nhiều trang thiết bị và cơ sở vật chất nên mới chỉ dừng lại ở mức bảo vệ và khích lệ ong ký sinh trên ñồng ruộng, ñặc biệt ở các nước ñang phát triển thì việc thương mại hóa sản phẩm ong ký sinh hoặc nhân nuôi tại hộ nông dân ñều chưa làm ñược.

Ở Thái Lan, Phi-líp-pin ñã sử dụng bọ ñuôi kìm bắt mồi ñể phòng trừ sâu hại ngô, mía thành công (FFTC, 2009) [60]. Ở Việt Nam, các nhà khoa học ở Trường ðại học Cần Thơ và Trung tâm BVTV miền Trung ñã thành công với mô hình nhân nuôi bọ ñuôi kìm bắt mồi tại hộ nông dân ñể phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa (Nguyễn Thị Thu Cúc và cộng sự, 2009) [9], (Trung tâm BVTV miền Trung, 2008) [35], Trung tâm BVTV khu 4 và Trung tâm BVTV phía Bắc cũng thành công trong việc nhân nuôi bọ ñuôi kìm bắt mồi tại hộ nông 21 dân ñể phòng trừ sâu hại cải bắp, cà tím, mía (Trung tâm BVTV khu 4, 2008) [34], (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2008 và 2009) [36], [37]. Kết quả này mở ra một triển vọng sử dụng bọ ñuôi kìm bắt mồi ñể phòng trừ sâu hại ở quy mô nông hộ.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 1.1 ða dạng thành phần loài bọ ñuôi kìm Bọ ñuôi kìm nằm trong một số bộ côn trùng cổ còn sinh tồn ñến ngày nay. ðã phát hiện nhiều mẫu hóa thạch từ ñầu kỷ Jura, một số ít các hóa thạch giống các hình thái hiện tại của bọ ñuôi kìm họ Labiduridae và Forficulidae ngày nay (Riek, 1970) [103].

Tên gọi bọ ñuôi kìm có nguồn gốc thần thoại liên quan ñến loài côn trùng này có thể chui vào tai người khi ñang ngủ và xâm nhập vào não; hình dạng cặp kìm trông giống như cặp dùi ñược sử dụng ñể ñục thủng tai người hay cặp cánh sau khi mở rộng ra giống hình dạng tai con người cũng là nguyên nhân dẫn ñến tên gọi của bọ ñuôi kìm theo tiếng Anh ngày nay là Earwig (Essig, 1942) [55], (Imms, 1957) [72]. Thành phần loài bọ ñuôi kìm khá phong phú và phân bố rộng khắp thế giới, theo Essig (1942) [55] loài ñược xác ñịnh sớm nhất tại Ca-li-phoóc-ni-a (Mỹ) là loài bọ ñuôi kìm Euborellia annulipes. Chúng ñược tìm thấy ở miền Nam Ca-li-phoóc-ni-a năm 1883, sau ñó mới ñược tìm thấy ở Lốt An-giơ-lét năm 1892. Theo Langston và Powell (1975) [80], bọ ñuôi kìm E.

annulipes thu ñược gần Sác-ra-men-tô (Ca-li-phoóc-ni-a) năm 1885 và không tìm thấy trong một thời gian dài, sau 47 năm chúng mới lại ñược ghi nhận. Theo Fabian Hass (1996) [56], Gullan và Cranston (2000a, 2000b) [65], [66] bộ cánh da (Dermaptera) là một bộ tương ñối nhỏ bao gồm khoảng 1.800 loài côn trùng với 10 họ phân bố trên thế giới. Theo Richard Leung (2004) [102] bọ ñuôi kìm ñược phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới trừ những vùng băng giá, rất phổ biến ở những vùng khí hậu nóng ẩm.200 loài ñã ñược miêu tả, số lượng này ít hơn so với công bố của Fabian Haas và Gullan trước ñó. Nishida (2008) [92] thu thập ñược 9 loài ở Nhật Bản trong ñó 2 loài thuộc họ Carcinophoridae là Anisolabis maritima và Euborellia annulipes; 2 loài thuộc họ Chelisochidae là Chelisoches morio và Hamaxas nigrorufus; 5 loài thuộc họ Labiidae.

Trong tổng số 9 loài thì loài Euborellia annulipes và Chelisoches morio phân bố rộng. Fabian Haas (2009) [58] ñã công bố những kết quả ñiều tra, ghi nhận thành phần loài bọ ñuôi kìm ở 26 nước trên thế giới. Trong ñó thành phần loài bọ ñuôi kìm ở Công-gô nhiều nhất có tới 128 loài, ở Vê-nê-du-ê-la có 85 loài, ở Ken-ni-a có 54 loài, ở Mỹ có 28 loài, Nhật Bản có 35 loài, Liên bang Nga có 34 loài, ít nhất là Ai-len chỉ có 3 loài. Nhiều loài mới ñược phát hiện sau này, theo Ramamurthi (1973) [101], ghi nhận ñược 3 loài mới ở Thái Lan.

Srivastava (1976) [110] nghiên cứu về bọ ñuôi kìm ở Phi-líp-pin ñã thu thập và mô tả 18 loài thuộc các giống Diplatys, Epilandex, Chaetospania, Auchenomus, Apachyus, Allostethus, Proreus, Adiathella, Kosmetor và Timomenus, trong ñó có 2 loài mới ñược ghi nhận lần ñầu tiên ở Phi-líp-pin. Trong những năm gần ñây, Fabian Haas và Matzke (2005) [57] mô tả loài mới là Schizoproreus vulcanus thuộc họ Chelisochidae ở Sulawesi (In-ñô-nê-xi-a); Petr Kocarek (2006) [97] ghi nhận loài mới ở Campuchia thuộc giống Nala (Labiduridae); Nishikawa (2008) [94] phát hiện ñược 2 loài phụ của loài Anisolabis maritima Bonelli ở Hàn Quốc và Nhật Bản; Ho và Nishikawa (2009) [68], Ho (2010) [69] phát hiện 1 loài mới thuộc giống Challia Burr (Pygidicranidae: Challinae) ở Hồng Kông và Quảng ðông, Trung Quốc. Gần ñây nhất Petr Kocarek (2011) [98] ghi nhận loài Euborellia ornata sp. Theo Zipcodezoo (2010) [120] giống Euborellia chỉ ghi nhận có 14 loài.

Theo Lesley (2012) [82] là 50 loài nhưng cùng với công bố của Petr Kocarek (2011) [98] thì có tổng số 51 loài ñã ñược ghi nhận. 23 Việc phân loại bọ ñuôi kìm cũng ñược nhiều nhà khoa học tiến hành. Esaki và Ishii (1952) [54] phân loại bọ ñuôi kìm bộ Dermaptera theo kiểu hình giải phẫu bên trong, theo cơ quan sinh dục ngoài và phân bố theo vùng ñịa lý ñã chia các loài bọ ñuôi kìm bắt mồi tập trung ở bộ phụ Forficulina gồm tổng họ Pygidicranoidea sinh sống chủ yếu trong các kho chứa ở các nước châu Á, châu Úc, Nam Phi và Nam Mỹ; tổng họ Karschilloidea tập trung ở Nam Phi, tổng họ này chủ yếu là bọ ñuôi kìm ăn kiến; tổng họ Labioidea có 3 họ là Labiidae, Carcinophoridae, Arixeniidae, họ Labiidea phổ biến hơn, họ Arixeniidae bao gồm các loài ký sinh trên dơi; tổng họ Forficuloidea có ba họ là Chelisochidae, Labiduridae, Forficuloidae trong ñó họ Labiduridae phân bố rộng. Trong các giống của các họ thì giống Labidura và Euborellia phổ biến nhất.

Hoffman (1987) [70] ñã ñưa ra thành phần bọ ñuôi kìm ở Mỹ gồm 6 họ. Theo Hoffman vị trí phân loại của loài bọ ñuôi kìm Euborellia annulipes Lucas và loài Euborellia annulata Fabricius trong lớp côn trùng (Insecta) như sau: Bộ: Cánh da (Dermaptera - De Geer, 1773) Họ: Carcinophoridae Họ phụ: Anisolabidinae Giống: Euborellia Burr, 1910 Loài: Euborellia annulipes (Lucas, 1847) Loài Euborellia annulata (Fabricius, 1793) So sánh với danh sách các loài bọ ñuôi kìm của Hoffman ñưa ra năm 1987, Choate (2001) [51] ñã phát hiện và bổ sung thêm 2 loài là Neolobophora ruficeps và Kleter atterimus. Choate cũng ñưa ra hệ thống phân loại ñến họ của các loài bọ ñuôi kìm và sự phân bố cũng như tập tính sống của các loài bọ ñuôi kìm ở Florida. Một số loài ñược mô tả khá chi tiết như: loài Anisolabis maritima phân bố ở Dunedin, St.Petersburg, Sarasota, 24 Cape Sable.

Chúng thường qua ñông bên dưới ñống cỏ biển, các mảnh vỡ tàu thuyền; Loài Euborellia annulipes phân bố ở Lakeland, Fort Myers và Key West; chúng sống bên dưới rác ở những nơi ẩm ướt, dưới các hòn ñá hoặc vỏ cây; Loài Labidura riparia phân bố ở Sanford, Dunedin, Mile Meyers, Haven, Utopia. Chúng sống bên dưới thảm mục ven các ao hồ như Lakeland, Miami, Key West, Punta Gorda hoặc dưới các mảnh vỡ dọc theo bờ biển và có xu tính với ánh sáng; Loài Vostox brunneipennis phân bố ở Okeechobee, Dunedin, St. Augustine, Palatka, Ormond.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu bọ đuôi kìm Euborellia annulipes trên rau cải bắp tại Hà Nội và Hưng Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và ảnh hưởng của loài bọ đuôi kìm Euborellia annulipes đối với cây cải bắp tại hai địa phương này. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của loài bọ này mà còn chỉ ra những biện pháp quản lý hiệu quả để bảo vệ cây trồng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức kiểm soát dịch hại, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng rau cải bắp.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các nghiên cứu sinh học khác, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh cranoglanis bouderius rechardson 1846 trong điều kiện nuôi tại tỉnh nghệ an, nơi bạn có thể tìm hiểu về sinh học của một loài cá đặc biệt. Ngoài ra, bài viết Luận văn tốt nghiệp ảnh hưởng của nhiệt độ và ph đới với sự phát triển của tảo tetraselmis sisueca sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sự phát triển của tảo. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu nuôi khuẩn lam spirulina platensis bằng phương pháp sạch trong hệ thống kín với môi trường khoáng cơ bản từ nước biển sẽ mang đến cho bạn cái nhìn mới về công nghệ nuôi trồng vi sinh vật trong môi trường sạch. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các lĩnh vực sinh học và nông nghiệp.