Nghiên cứu sử dụng Viễn thám (RS) và GIS đánh giá xói mòn đất huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ

Đánh giá xói mòn đất Tam Nông bằng viễn thám và GIS. Nghiên cứu chi tiết về hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng chống xói mòn đất hiệu quả.

Chuyên ngành

Quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2012

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu RS và GIS đánh giá xói mòn đất

Xói mòn đất là vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái tại nhiều vùng đồi núi Việt Nam. Huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng gò đồi trung du, chịu tác động mạnh mẽ của quá trình xói mòn do mưa lớn, địa hình dốc và hoạt động canh tác thiếu bền vững. Viễn thám (RS) và Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là hai công nghệ hiện đại, hỗ trợ đắc lực trong việc thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu không gian phục vụ đánh giá xói mòn đất. Ứng dụng RS giúp thu nhận hình ảnh vệ tinh đa thời gian, đa phổ, trong khi GIS cung cấp nền tảng quản lý, phân tích dữ liệu địa hình, đất đai, khí hậu. Nghiên cứu sử dụng RS và GIS để đánh giá xói mòn đất huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ tài nguyên đất tại địa phương. Công trình này áp dụng mô hình USLE kết hợp dữ liệu viễn thám Landsat, bản đồ độ cao DEM và các lớp thông tin GIS để tính toán, lập bản đồ phân vùng mức độ xói mòn đất.

1.1. Cơ sở lý luận về xói mòn đất và công nghệ RS GIS

Xói mòn đất là quá trình phá hủy và vận chuyển lớp đất mặt do tác động của nước mưa, dòng chảy bề mặt và gió. Theo mô hình USLE (Universal Soil Loss Equation), mức độ xói mòn phụ thuộc vào sáu yếu tố chính: mưa xói mòn (R), độ dốc (LS), khả năng chống xói của đất (K), che phủ thực vật (C) và biện pháp bảo vệ (P). Công nghệ viễn thám cung cấp dữ liệu ảnh vệ tinh phục vụ xác định lớp phủ thực vật, hiện trạng sử dụng đất. Hệ thống thông tin địa lý GIS cho phép tích hợp, quản lý và phân tích đa lớp dữ liệu không gian, xây dựng bản đồ xói mòn đất với độ chính xác cao.

1.2. Tình hình nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, nghiên cứu xói mòn đất bằng RS và GIS đã được triển khai từ những năm 1970 tại Mỹ, châu Âu và châu Á. Các mô hình dự đoán xói mòn như USLE, RUSLE, WEPP được ứng dụng rộng rãi kết hợp dữ liệu viễn thám. Tại Việt Nam, nghiên cứu xói mòn đất tập trung ở Tây Nguyên, miền Trung và vùng trung du phía Bắc. Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ (1983) đã áp dụng phương pháp thu đất để đo xói mòn tại Tây Nguyên. Gần đây, ứng dụng GIS kết hợp mô hình USLE trở thành phương pháp phổ biến, giúp đánh giá xói mòn đất ở quy mô vùng với chi phí thấp và hiệu quả cao.

II. Phân tích thực trạng xói mòn đất huyện Tam Nông Phú Thọ

Huyện Tam Nông nằm ở phía tây tỉnh Phú Thọ, thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc. Địa hình huyện chủ yếu là gò đồi thấp, độ cao trung bình từ 20 đến 200 mét so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, gây ra áp lực xói mòn lớn. Đa phần đất trên địa bàn huyện thuộc nhóm feralit trên đá phiến sét và phù sa cổ, khả năng chống xói mòn ở mức trung bình đến yếu. Hoạt động canh tác nông nghiệp, đặc biệt trồng cây công nghiệp ngắn ngày và chăn thả gia súc, làm giảm độ che phủ thực vật, gia tăng nguy cơ xói mòn. Theo kết quả nghiên cứu, nhiều khu vực trên địa bàn huyện Tam Nông thuộc mức xói mòn trung bình đến rất mạnh. Các vùng đồi có độ dốc trên 15 độ, không có rừng che phủ, chịu xói mòn nghiêm trọng nhất. Tình trạng suy thoái đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và đời sống người dân địa phương.

2.1. Đặc điểm tự nhiên và địa hình huyện Tam Nông

Huyện Tam Nông có diện tích tự nhiên khoảng 155 km², nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và trung du Phú Thọ. Địa hình phân hóa rõ rệt thành hai vùng: vùng đồng bằng thấp phía đông và vùng gò đồi phía tây. Độ dốc phổ biến từ 3 đến 25 độ, thuận lợi cho quá trình xói mòn phát triển khi có mưa lớn. Hệ thống sông, suối chia cắt mạnh tạo nhiều lưu vực nhỏ. Đất feralit trên đá phiến sét chiếm tỷ lệ lớn, kết cấu đất dễ bị phá hủy dưới tác động của nước mưa và dòng chảy bề mặt.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến xói mòn đất tại địa phương

Yếu tố tự nhiên ảnh hưởng mạnh nhất đến xói mòn đất tại Tam Nông bao gồm: lượng mưa tập trung theo mùa, cường độ mưa lớn, địa hình dốc và loại đất có khả năng chống xói yếu. Yếu tố nhân tác主要包括: phá rừng lấy đất canh tác, canh tác trên đất dốc không áp dụng biện pháp bảo vệ, đốt nương làm rẫy. Thực tế cho thấy, các xã phía tây huyện Tam Nông có mức độ xói mòn cao hơn hẳn so với vùng đồng bằng. Mức độ che phủ thực vật giảm liên tục trong nhiều năm cũng là nguyên nhân chính khiến xói mòn đất ngày càng nghiêm trọng.

III. Phương pháp ứng dụng RS và GIS trong đánh giá xói mòn

Phương pháp nghiên cứu sử dụng RS và GIS để đánh giá xói mòn đất huyện Tam Nông dựa trên việc tích hợp dữ liệu viễn thám Landsat, bản đồ độ cao DEM và các thông tin chuyên đề. Dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat được sử dụng để xác định chỉ số thực vật NDVI, từ đó tính toán hệ số che phủ thực vật (C) trong mô hình USLE. Bản đồ độ cao DEM phục vụ tính toán hệ số độ dốc và chiều dài dốc (LS). Dữ liệu khí hậu từ các trạm đo mưa được xử lý để tính hệ số mưa xói mòn (R). Các lớp bản đồ đất đai cung cấp thông tin về tính chất vật lý đất, phục vụ tính hệ số chống xói của đất (K). Toàn bộ dữ liệu được tích hợp, phân tích trong môi trường GIS, sử dụng phần mềm ArcGIS và IDRISI. Mô hình USLE được áp dụng để tính toán lượng đất mất do xói mòn trên từng ô đất. Kết quả cuối cùng là bản đồ phân vùng mức độ xói mòn đất toàn huyện, phục vụ công tác quy hoạch và quản lý đất đai.

3.1. Thu thập và xử lý dữ liệu viễn thám vệ tinh

Dữ liệu viễn thám sử dụng trong nghiên cứu chủ yếu là ảnh vệ tinh Landsat TM/ETM+ với độ phân giải không gian 30 mét. Ảnh được thu nhận vào mùa khô để giảm ảnh hưởng của mây. Quá trình xử lý ảnh bao gồm: hiệu chỉnh phóng xạ, hiệu chỉnh khí quyển, phân loại sử dụng đất và tính chỉ số thực vật NDVI. Chỉ số NDVI phản ánh mật độ che phủ thực vật, phục vụ tính hệ số C trong mô hình USLE. Dữ liệu DEM SRTM độ phân giải 90 mét được sử dụng để tạo bản đồ độ dốc, tính toán yếu tố LS phục vụ đánh giá xói mòn đất.

3.2. Xây dựng mô hình đánh giá xói mòn đất bằng GIS

Mô hình USLE (A = R × K × LS × C × P) được áp dụng trong môi trường GIS để tính toán lượng đất mất do xói mòn trên từng đơn vị diện tích. Mỗi yếu tố trong mô hình được thể hiện dưới dạng lớp bản đồ raster. Yếu tố R tính từ dữ liệu mưa trạm khí tượng. Yếu tố K xác định từ kết quả phân tích cơ giới thành phần đất. Yếu tố LS tính từ bản đồ độ dốc DEM. Yếu tố C xác định từ ảnh viễn thám qua chỉ số NDVI. Yếu tố P được gán theo thực tế canh tác tại địa phương. Kết quả phân tích cho ra bản đồ mức độ xói mòn đất toàn huyện.

IV. Kết quả và ứng dụng đánh giá xói mòn đất Tam Nông

Kết quả nghiên cứu cho thấy xói mòn đất tại huyện Tam Nông phân hóa rõ rệt theo địa hình và mức độ che phủ thực vật. Các vùng đồi phía tây huyện có mức xói mòn từ trung bình đến rất mạnh, với lượng đất mất trung bình từ 10 đến trên 50 tấn mỗi hecta mỗi năm. Vùng đồng bằng thấp phía đông có mức xói mòn nhẹ, dưới 10 tấn mỗi hecta mỗi năm. Khoảng 35% diện tích đất tự nhiên của huyện chịu xói mòn ở mức trung bình trở lên, cần được quan tâm bảo vệ. Bản đồ phân vùng xói mòn đất được xây dựng với năm cấp độ: rất nhẹ, nhẹ, trung bình, mạnh và rất mạnh. Kết quả này là cơ sở khoa học quan trọng để chính quyền địa phương lập quy hoạch sử dụng đất, xây dựng kế hoạch bảo vệ và cải tạo đất. Ứng dụng RS và GIS đã chứng minh hiệu quả vượt trội so với phương pháp truyền thống, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao độ chính xác trong đánh giá xói mòn đất quy mô huyện.

4.1. Kết quả phân vùng mức độ xói mòn đất huyện Tam Nông

Bản đồ xói mòn đất huyện Tam Nông được xây dựng với năm cấp độ phân loại. Vùng xói mòn rất nhẹ (dưới 5 tấn/ha/năm) chiếm khoảng 40% diện tích, tập trung ở vùng đồng bằng và khu vực có rừng che phủ tốt. Vùng xói mòn nhẹ chiếm khoảng 25%. Vùng xói mòn trung bình chiếm khoảng 20%, phân bố ở sườn đồi có độ dốc 8-15 độ. Vùng xói mòn mạnh và rất mạnh chiếm khoảng 15%, tập trung ở các xã phía tây huyện, nơi có độ dốc lớn, đất trống đồi trọc nhiều. Kết quả này phù hợp với hiện trạng thực tế tại địa phương.

4.2. Ứng dụng kết quả trong quy hoạch và bảo vệ đất bền vững

Kết quả đánh giá xói mòn đất bằng RS và GIS được ứng dụng trực tiếp trong nhiều lĩnh vực quản lý tài nguyên đất. Bản đồ phân vùng xói mòn phục vụ quy hoạch sử dụng đất, xác định khu vực cần bảo vệ nghiêm ngặt. Các vùng xói mòn mạnh được khuyến nghị chuyển đổi từ canh tác nông nghiệp sang trồng rừng phòng hộ. Kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ xây dựng kế hoạch cải tạo đất, áp dụng biện pháp canh tác bền vững như trồng cây theo hàng ngang đồi, xây dựng hệ thống thoát nước. Đây là cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên đất tại huyện Tam Nông.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Nghiên cứu sử dụng viễn thám rs và hệ thống thông tin địa lý gis để đánh giá xói mòn đất huyện tam nông tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của ñề tài 1.1 Cơ sở lý luận về vùng ñất gò ñồi 1.1 Khái niệm về vùng gò ñồi ðất vùng gò ñồi ñược hình thành do tác ñộng ñồng thời của các yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, ñịa hình, ñá mẹ, thời gian và con người. Dưới tác ñộng của các yếu tố trên, ñất vùng gò ñồi ñã ñược hình thành, phát triển và có những ñặc ñiểm cũng như mục ñích sử dụng ñất khác nhau (Nguyễn Thế ðặng và cộng sự, 2003) [5]. Cho ñến nay khái niệm về vùng ñất ñồi vẫn còn khác nhau rất nhiều mặc dù những thuật ngữ như ñồi, vùng ñồi và trung du ñược sử dụng khá phổ biến trong sản xuất nông lâm nghiệp và các lĩnh vực khác. Vũ Tự Lập (1999) [10] cho rằng vùng ñồi là vùng có ñộ cao tuyệt ñối so với mực nước biển < 500 m.

Trong ấn phẩm “Thuyết minh bản ñồ ñịa mạo Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, 1984” ñưa ra ñịnh nghĩa vùng ñồi là vùng có ñộ cao từ 10 – 300 m phát triển thành dải ở rìa vùng núi, chúng phát triển trên các cấu trúc rất khác nhau và bị phân cắt từ mức yếu ñến trung bình (dẫn theo Vũ Tự Lập, 1999) [10]. Theo quan ñiểm của Trần ðình Lý (2006) [13] có thể lấy giới hạn ñộ cao tuyệt ñối của vùng ñồi từ 15 m, nơi ñịa hình bắt ñầu bị chia cắt mạnh còn giới hạn trên có thể ñến 300 m so với mặt nước biển. Lê Quý An (1995) [1] thì cho rằng giới hạn thấp nhất của vùng ñồi là 25 m và giới hạn ở ñộ cao không ñược ñề cập mà chỉ nói ñến giới hạn của ñộ dốc phải nhỏ hơn 250. Trong ấn phẩm “Những loại ñất chính miền Bắc Việt Nam”, Vũ Ngọc Tuyên và cộng sự (1996) [46] cho rằng vùng Trung du bao gồm những loại ñất phân bố ở ñộ cao từ 25 m ñến 200 m.

ðể xác ñịnh vùng ñất ñồi thì ñộ cao Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp …………………………. 4 tương ñối hoặc chia cắt sâu có ý nghĩa quyết ñịnh. Tuy nhiên về vấn ñề này cũng có nhiều cách phân chia khác nhau: nhà ñịa mạo Nga Spiridonov cho rằng dạng ñịa hình ñồi có ñộ cao tương ñối (chia cắt sâu) khoảng 10m-100 m và ñộ dốc 30-80 (dẫn theo Trần ðình Lý (2006) [13]) nhưng theo Vũ Tự Lập (1999) [10] là 25-250 m và ñộ dốc 8-15 ñộ. Kết quả nghiên cứu của ðặng Ngọc Dinh và cộng sự (1998) [3] và Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học & Công nghệ (2002) [49] về vùng gò ñồi Bắc Trung bộ thì gò ñồi ñược hiểu là vùng lãnh thổ kẹp giữa núi và ñồng bằng hoặc những vùng ñất cao xen với ñồng bằng, có ñộ cao từ 20-300 m so với mặt biển.

Vì có vị trí trung gian chuyển tiếp giữa núi và ñồng bằng nên có nơi gọi là vùng trung du, vùng bán sơn ñịa. Về hình thái bề ngoài ñó là những vùng ñất cao lúp xúp, có ñộ cao sàn sàn gần bằng nhau, ñỉnh thường bằng phẳng, sườn lồi hay thoai thoải, ở chân thường là các thung lũng phân cách.2 Quá trình hình thành ñất vùng gò ñồi - Quá trình tích lũy tương ñối sắt nhôm (feralit): ðây là quá trình hình thành ñất ñiển hình của vùng gò ñồi nước ta trong ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới nóng ẩm. Quá trình tích lũy tương ñối sắt, nhôm trong ñất gắn liền với sự rửa trôi các cation kiềm thổ (Ca2+, Mg2+…) và silic làm cho ñất có màu ñỏ vàng là chủ ñạo, rất chua, chủ yếu thuộc nhóm ñất xám (Acrisols), ñất ñỏ (Ferrasols). Các nhóm ñất này chiếm tỷ lệ lớn ở vùng gò ñồi nước ta và hình thành trên các loại ñá mẹ khác nhau nên ñộ ñậm nhạt của màu sắc, ñộ dày và ñặc tính lý hóa học rất khác nhau.

- Quá trình tích lũy tuyệt ñối sắt nhôm (kết von, ñá ong): Quá trình này thường xảy ra ở vùng gò ñồi thấp, nơi có mực nước ngầm thay ñổi theo mùa mưa/khô xen kẽ. Vào mùa mưa, nước ngầm chứa nhiều muối sắt dễ tan phân bố trong các mao quản. ðến mùa khô, khi lớp ñất trên mặt khô hạn, nước Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp …………………………. 5 ngầm từ dưới di chuyển lên phía trên Fe2+ sẽ oxy hóa thành Fe3+ tích lũy trong ñất ở dạng khan (Fe2O3) hoặc ngậm nước (Fe2O3.nH2O) ñể dần dần tạo kết von sắt và ñá ong.

Quá trình tích lũy tuyệt ñối sắt nhôm là quá trình thoái hóa ñất nghiêm trọng như ñá ong hóa, kết von gây khó khăn hoặc mất khả năng trồng trọt. - Quá trình tích lũy chất hữu cơ (mùn hóa): Dưới tác ñộng của các thảm thực vật, sau chu kỳ sinh trưởng của các loại cây trồng, sinh khối mà chúng trả lại cho ñất sẽ ñược phân giải và tổng hợp thành chất hữu cơ mới của ñất, ñó là các hợp chất hữu cơ cao phân tử màu ñen thường gọi là mùn. Quá trình này xảy ra ở vùng gò ñồi dưới các thảm thực vật khác nhau, tạo ñộ phì cho ñất. Chính vì vậy, ở những nơi còn giữ ñược nhiều rừng và thảm cỏ tự nhiên, ñộ phì của ñất sẽ cao hơn.

- Quá trình bạc màu hóa: ðất nghèo khoáng sét, chất hữu cơ cũng như các nguyên tố vô cơ do xói mòn hoặc rửa trôi theo chiều sâu phẫu diện và bề mặt làm cho lớp ñất mặt trở nên bạc trắng, mất kết cấu, nghèo chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và sắt. Quá trình này không những chỉ xảy ra ở vùng gò ñồi ñã ñược khai phá từ lâu nhưng không ñược bảo vệ, cây trồng phát triển kém mà còn xảy ra ngay trên những chân ñất có quá trình canh tác không hợp lý. - Quá trình chua hóa: Các cation kiềm và kiềm thổ như Na+, K+, Ca2+, Mg2+ trong ñất dần dần mất ñi do quá trình rửa trôi, xói mòn, cây hút chất dinh dưỡng nên ñất chỉ còn lại các cation gây chua (H+, Al3+) và các gốc axit. Quá trình này xảy ra mạnh ở vùng gò ñồi khi rừng bị khai phá làm nương rẫy hoặc ñộc canh liên tục.

- Quá trình rửa trôi, xói mòn: Trên các sườn ñồi, dốc, nhất là các vùng rừng và nơi thảm thực vật bị phá hoại, vào mùa mưa ñất bị rửa trôi, xói mòn làm cho lớp ñất mặt bị mỏng dần, nhiều nơi trơ lớp sỏi, ñá gọi là ñất xói mòn trơ sỏi ñá. Những ñất này hầu như không còn khả năng sản xuất ngay cả trồng rừng. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp …………………………. 6 - Quá trình bồi tụ và hình thành ñất ñồng bằng, thung lũng: Quá trình rửa trôi, xói mòn ñất gò ñồi hoặc sản phẩm phù sa ven suối lắng ñọng lại ở các thung lũng.

Thung lũng là nơi dân cư ñông ñúc, trọng ñiểm sản xuất nông nghiệp canh tác lúa nước trên ñất bằng và cây trồng cạn trên ñất dốc. ðây là vùng ñất rất quan trọng ñối với sản xuất lương thực, thâm canh, tăng năng suất ñể hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy. - Các quá trình khác: Ở vùng gò ñồi, các quá trình lở ñất thường xảy ra vào mùa mưa, bão. Ở ñịa hình dốc, khi nước trong ñất bão hòa thấm xuống sâu, tiếp xúc với lớp ñất ñá có ñộ thấm và giữ nước kém hơn dễ sinh ra các bề mặt trượt làm cho lớp ñất ñá bên trên trượt xuống thấp.

Việc xẻ núi làm ñường giao thông vùng gò ñồi ñã tạo ñiều kiện gây ra hiện tượng trượt, lở ñất.2 Cơ sở lý luận về xói mòn ñất 1.1 Quan niệm về xói mòn Xói mòn là một cụm từ Latinh “erosion” thể hiện sự ăn mòn dần. Theo ñịnh nghĩa của Từ ñiển Bách khoa Toàn thư Việt Nam [95] thì xói mòn ñất ñược hiểu là “Quá trình các tác nhân khí hậu (mưa, gió), ñôi khi cả con người (các hoạt ñộng chặt phá rừng ñể lấy ñất canh tác, phát triển cơ sở hạ tầng như xây nhà, làm ñường, v.) tác ñộng lên mặt ñất làm cho lớp mặt của ñất, keo mùn, những tầng ñất tơi xốp, các vụn ñất và ñá sét bị mất ñi hoặc trôi theo sườn dốc”. Praxolov (dẫn theo Zakharov, 1981) [52] cho rằng “Xói mòn ñất cần phải hiểu là những hiện tượng phá hủy và cuốn trôi theo ñất cũng như các quặng xốp bằng dòng nước và gió thể hiện dưới nhiều hình thức và rất phổ biến”. Husdson (1981) [7] coi xói mòn là quá trình san bằng, trong ñó các hạt ñất hay ñá cứng bị nhào lộn, rửa trôi và di chuyển dưới tác dụng của trọng lực, gió và nước là ñộng lực chính của quá trình này.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp …………………………. 7 Khi nghiên cứu về tác nhân của lớp phủ thực vật thì Nguyễn Quang Mỹ (2005) [17] cho rằng, xói mòn ñất là một quá trình phá hủy lớp thổ nhưỡng (bao gồm cả phá hủy thành phần cơ giới, lý và hóa tính, chất dinh dưỡng,…của ñất) dưới tác ñộng của các nhân tố tự nhiên và nhân tạo, làm giảm ñộ phì nhiêu của ñất, gây ra bạc màu, thoái hóa ñất, ñá ong hóa, trơ sỏi ñá… ảnh hưởng trực tiếp ñến sự sống và phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác.2 Một số khái niệm phân loại xói mòn Trong quá trình nghiên cứu xói mòn ñất, người ta ñi ñến một số khái niệm sau: - Xói mòn ñất tự nhiên (xói mòn ñịa chất): xảy ra do tác ñộng của lực tự nhiên lên mặt ñất. - Xói mòn gia tốc: Hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp và một số hoạt ñộng của con người ñã làm mất cân bằng tự nhiên (giữa ñất, thảm thực vật và các yếu tố khí hậu). Khi sự cân bằng tự nhiên bị phá vỡ thì sẽ xảy ra xói mòn mặt ñất với tốc ñộ rất nhanh, nhanh hơn quá trình hình thành ñất.

Loại xói mòn này gọi là xói mòn gia tốc. Xói mòn gia tốc làm bề mặt ñất bị bào mòn nghiêm trọng và làm giảm sút ñộ phì của ñất. Căn cứ vào tác nhân gây ra xói mòn, người ta phân ra xói mòn ñất thành 5 dạng: xói mòn do nước, do gió, do trọng lực, do tuyết tan và do dòng bùn ñá. a/ Xói mòn do nước: Xói mòn này ñược phân thành xói mòn bề mặt và xói mòn dạng tuyến tạo thành rãnh xói.

Sự rửa trôi ñất là do mưa khi rơi xuống sinh ra mạng lưới dòng chảy ở các liên sườn nghiêng. Tuy nhiên dạng dòng chảy này chỉ mang tính tạm thời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ