Chương 1 TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN COU 1. KHÁI NIỆM VỀ NẤM CỘNG SINH 'Nấm cộng sinh là một loại nấm có ích, giữa các sinh vật trong tự nhiên đều có mối liên quan với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành rất nhiều quần xã sinh vật. Trong mối quan hệ đó, thường có. quan hệ cộng sinh.
là cả hai loài cùng sống chung và cùng nhau tổn tại. Khi méiquan hệ đó phát triển đến mức độ cao thì hình thành một loại công sinh. Đặc biệt về mặt sinh lý thì cũng e6 sự khác biệt với những loại không công sinh, Hiện nay, người ta chia rễ nấm ra làm 2 loại: nấm ngoại cộng sinh và ñấm nội cộng sinh. Nấm ngoại cộng sinh hình thành ngoài rễ một loại sợi nấm đầy đặc, một ít sợi nấm xuyên vào giữa gian bào của tế bào vỏ rễ.
Nấm nội cộng sinh chủ yếu là sợi nấm tồn tại trong tế bào ting vỏ ré, ít ở ngoài rể, Nấm nội cộng sinh thường có hai loại: loại do nấm có vách ngăn hình thành iẩm rễ, còn một loại do nấm không có vách ngăn hình thành, loại không có vẩÈhy ngăn hình thành các nhánh và túi bọt mà người ta gọi là "nấm rễ chùm - túi bọt” (Vesicular arbuscular myconhiza) được sọi tắtlà VAM hoặc VA. Nhằm góp phần vàc cing cuộc bảo vệ và phát triển rừng, trong những, nam gần đây, các nước (r*q thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về nấm. Từ xưa đến nay da có nhiều người nghiên cứu và công nhận, rẻ nấm ‘cay con là nhân tố thứ ba làm tăng sản lượng cây rừng. Các nước trên thế giới xem nó như là một biện pháp tăng sản cây nông lâm nghiệp.
Do vậy việc coi trọng ứng dụng và mở rộng kỹ thuật rễ nấm là một biện pháp kỹ thuật trồng, rừng quan trong. Ở nước ta đã và đang đầu tư cho việc nghiên cứu nấm cong sinh để phục vụ cho công tác trồng rừng đạt hiệu quả cao. Thập kỷ 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu nấm cộng sinh đã trở thành một cao trào nhằm nang cao sản lượng và chất lượng cây trồng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, xoá đổi giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái trên toàn cầu, bảo vệ tính đa dang sinh bọc, làm cơ sở cho việc phát triển lâm nghiệp bền vững. LƯỢC SỬ NGHIÊN COU VỀ NAM CỘNG SINH 1.giới Nấm rễ cộng sinh (Mycorrhiza) được lấy từ chữ Hy Lạp Mykes (nấm) và Rhiza (18), trong tự nhiên là hai loài sinh vat khác nhau.
Trong điều kiện nhất định, chúng cing sống với nhau, hỗ trợ cho nhau. Những nấm có hiện tượng cộng sinh với sinh vật khác là nấm cộng sinh (Symbiotic). Nấm rễ cộng sinh là một hiện tượng rất phổ biến trong tự nhiên Đó Li hiện tượng cộng sinh giữa nấm và rễ cây bậc cao ( Frank, 1985). Chúng có tác dụng hỗ trợ nhau cùng phát triển.
“Trong những năm vừa qua, nhiều nước đã nghiên cứu ứng dung nấm cộng sinh cho thong, bạch đàn và nhiều loài cây gỗ khác và thu được những kết quả rõ rệt. Đã có nhiều chương trình hợp tác nghiên cứa về rễ nấm cộng sinh. Những năm thập kỷ 90, nhiễt nước đã mở các cuộc hội thảo vẻ nấm. Tháng 11 năm 1994, hội nghị quốc tế gồm 6 nước : Australia, Indonesia, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc và Việt Nam đã xuất bản 36 bài báo cáo vẻ nấm cộng sinh cây rừng ở châu A (Myconhiza for Plantation Forestry in Asia).
Ngày nay, ở Trung Quốc đã thành lập 3 + 4 nhà máy sản xuất chế phẩm nấm rễ Hàng năm sản xuất trên 20 tấn để bón cho hàng van ha cây con. Hơn 10 năm lại day, việc nghiên cứu rễ nấm. vẫn là lĩnh vực nghiên cứu sói động. Theo thống ke từ năm 1987 đến 1994, hội nghị vẻ ré nấm Bắc Mỹ (NACOM) đã tổ chức 3 lần, ở châu A (ACOM) cũng đã tổ chức 3 lần hội nghị, ngoài ra còn có hội nghị nấm châu Âu (E COM).
Mạng lưới rễ nấm châu A được sự hỗ trợ của Trung tâm nghiên cứu quốc tế Canada (IDRC) đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo nghiên cứu bất thường vé nấm rễ quốc tế, năm 1992, Perth đã tổ chức hội thảo nghiên cứu rễ nấm cho cây nông nghiệp, cây. cảnh và cây lâm nghiệp. nhiều nước như Canada, Mỹ, Pháp, Australia, Nhật Bản và Nam Mỹ đã sản xuất chế phẩm cung cấp cho cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và nghề vườn. Có xưởng đã thu được lợi nhuận cao.
Điều này chứng tỏ xế nấm đã ngày càng được nhiều người chú ý. Không những thế, đối tượng và nội dung nghiên cứu nấm rễ cũng càng ngày càng phát triển và mở rộng. các loài thực vật loại Quyết đến cây gỗ, từ nông nghiệp, nghề trồng cây cảnh đến lâm nghiệp, từ rễ nấm ngoại cộng sinh đến rễ nấm nội cộng sinh ;không chỉ nghiên cứu trong các lĩnh vực tài nguyên nấm rẻ, mà còn nghiên cứu đặc tính sinh vật học, sinh lý học, đĩ truyền học và sinh thấi học. Người ta không chỉ nghiên cứu cơ sở mà còn cả nghiên cứu ứng dụng.
Đặc biệt là với sự phát triển của khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu sinh lý học, sinh học phân tử và công nghệ gen hiện dai đã mở ra một trang sử mới vẻ nghiên cứu nấm rể, đưa công tác nghiên cứu nấm rễ bước vào giai đoạn phát triển mới. ‘Tir thập kỷ 1970, trong nghiền cứu dinh dưỡng khoáng, cây gỗ hình thành một khái niệm “đinh dưỡng khoáng ổn định của Ruchle và Marx D-H”. “Trong thời kỳ nhất định, trạng thấi dính dưỡng của cây và tốc độ sinh trưởng déu phải bảo đảm sự ổn định. Họ nhận thấy rằng: nấm ngoại cộng sinh Pisolithus tinctorius Coker (go tắt là Pt) có thé phát huy tác dung trong điều độ cao, khô 1,40, đọ pH thấp.
Miền Nam Trung Quốc đã nghiên cứu kiện nhiệt thành công việc sản xuất chế phẩm các loài nấm cộng sinh Boletus SPP, Suillus spp., dùng để xử lý hạt, xúc tiến sinh trưởng cây thông Pinus elliotti Engclm. Ngoài ra, trường dai hoc lam nghiệp Bắc Kinh - “Trung Quốc đã tiến hành điều tra tài nguyên nấm rễ và đều kết luận rằng nấm cộng sinh đã xúc tiến sinh trưởng cây gỗ lên 1,5 lần va tăng khả năng chống chịu các bệnh hại rễ. Về sự nghiên cứu thành công nấm rễ, chúng ta phải kể .đến các công trình nghiên cứu sau: © Dalvis (1942) đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ nấm rễ. Marx (1972, Leizengfu (1982) đã nghiên cứu tác dụng chống chịu bệnh của nấm ngoại công sinh.
Guo Xiuzhen, Lei Zengfu đã sử dụng nấm gan bò tán nhấy (Suilus elegans Snell) phòng bệnh thối cổ rễ thông, tác giả dùng nấm gan bò sữa vàng day (Suillus grivillei Sing), nấm md neo đỏ (Comphidius rutilus Hund) phòng trừ bệnh thối cổ rễ thông, thể hiện khả năng chống, trị bệnh rõ rệt + Theo Zao Huiun (1995), trong điều kiện khố hạn, nhiệt độ cao, độ pH thấp (chua) đã bón nấm ngoại cộng sinh cho cây con mới trồng 10cmỶ/hố, tưới nước rồi thêm chất đỉnh dưỡng, kết quả cho thấy hiệu quả tăng gấp đôi so với đối chứng. * Andrew Smith (Australia) đã nghiÊn cứu VA cho cà phê. Silviana (Indonesia) nghiên cứu tính da dang của VA cho cây Garecinia mangostana. nghiên cứu VA dang viên (Mycobead) bón cho 3v con thông nhựa P.
merkussi; Puspa (Indonesia) nghiên cứu vai ro của \\.ftu (jlomus-fasciculatum cho cây họ dau. « Người nghiên cứu đầu tiên vé nấm cộng sinh : J. Janse (1897) tim được 69 loài nấm nội cộng sinh, trên 75 loài cây rừng vùng rừng núi Gunnung Gedeh cao 1400 + 1800 m so với mặt nước biển. đã nghiên cứu thành công cùng với làm tăng sinh trưởng cây sỗ, khả năng cố định N cũng được nang cao.
“Trong điều kiện tự nhiên, nghiên cứu kỹ thuật ứng dụng nấm cộng sinh để xúc tiến sinh trưởng cây con và cây rừng trồng là vấn để cần thiết hiện nay không chỉ ở nước ta mà còn là vấn để của cả thế giới quan tam. Việc nghiên cứu vẻ nấm cộng sinh đã trở thành một cao trào không chỉ trong lĩnh vực Lâm nghiệp, mà còn cả trong lĩnh vực cây nông nghiệp, cây ăn quả và cây cảnh. Bên cạnh những nghiên cứu về sinh ý, sinh hoá, đặc tính di truyền, chuyển gen, trên cơ sở nghiên cứu tính đa dang thực vật, nấm cộng sinh đã được nhiều nhà khoa học chú ý đến. Ben cạnh những nghiên cứu chuyển gen cây chống chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, việc tiếp nấm cộng sinh cho cây gỗ để làm tăng sinh trưởng, tăng khả năng chống chịu hạn, chống chịu sâu bệnh đã và đang được nghiên cứu khá tỉ mĩ và thu được nhiều thành tựu.
Trong quá trình phát triển tréng rừng, người ta đã tiếp chế phẩm nấm cộng sinh cho cây con & vườn ươm và rừng trồng lrên một diện tích lớn như ở Trung Quốc, chế phẩm nấm cộng sinh chỉ sản xuất cho các tỉnh miền Nam ‘Trung Quốc đã lên tới bàng trăm tấn/ năm mà vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu trồng rừng phủ xanh đất trống, lục hoá thành phố, trồng cây cảnh, v. Gần day, người ta đã chú ý đến ảnh hưởng của các xuất xứ các loài cây khác nhau trong dong khi tiếp chế phẩm nấm cộng sinh, người ta đã chọn ra các tổ hop gen của nấm rễ với cây chủ. Nhữas loài đó có khả năng hấp thu dinh đưỡng P lên 3 + 4 lan. Những biến đổi đổ là cơ sở của việc nghiền cứu ngày nay trên thế giới 1.
Ở Việt Nam Năm 1975 Trần Van Mão đã nghiên cứu cấu tạo nấm nội, ngoại cộng, sinh của cây thông và sử dụng đất man thông bón cho cây con ở vườn ươm tại Quảng Ninh. Năm 1982 bộ môn Sinh lý trường Đại học Lâm nghiệp đã bất đâu nghiền cứu sản xuất thử chế phẩm nấm cộng sinh, Nguyễn S¥ Giao nghiên cứu nấm cộng sinh ở cây thông. Những năm gần đây, Phạm Quang “Thu đã nghiên cứu tạo chế phẩm nấm Pt bón cho vườn ươm. Tuy nhiên do điều kiện thiết bị thiếu, cán bộ nghiên cứu phân tán hoặc chưa có những nhận thức đẩy đủ, việc nghiên cứu sử dụng tổng hợp nấm cong sinh ở nước ta chưa được toàn diện hoặc hiệu quả không én định.
Vi vay, để phục vụ cho việc trồng rừng keo, thông, bạch đàn có sản lượng cao và ổn định, việc sử dụng nấm cộng sinh cho cây con vườn ươm và rừng trồng là rất cẩn thiết © trong nước, việc nghiên cứu nấm cộng sinh còn rất mới mẻ, nhiều nghiên cứu bị bỏ lại hoặc bị lãng quên trong mấy chục năm nay, thỉnh thoảng cồn gặp lại trên một số tạp chí. Trần Văn Mão, 2001- Vai trò của nấm cộng sinh trong sản xuất nông, lâm nghiệp.