Chương 1 TONG QUAN 1. Giới thiệu bệnh VDNC Bệnh viêm da nồi cục (Lumpy skin disease) còn được gọi là bệnh da san, là bệnh truyền nhiễm do virus VDNC gây ra ở trâu, bò. Virus Capripoxvirus là một trong tam chi trong phân họ Chordopoxvirinae của họ Poxviridae va bao gồm virus gây bệnh VDNC, virus đậu ở cừu (SPPV) và virus đậu ở dê (GTPV). Các virus này là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh làm thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi gia súc nhai lại ở châu Phi và châu Á (CFSPH, 2008).
SPPV và GTPV là loài đặc hữu ở hầu hết các nước châu Phi, Trung Đông, Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ. Ngược lại, VDNC xảy ra phần lớn ở Nam, Trung, Đông và Tây châu Phi (Bhanuprahash và ctv, 2006). Sự xuất hiện của nó đã được xác nhận lần đầu tiên tại Ai Cập và Israel từ năm 1988 và các năm 2006, 2011 và 2014 ở Ai Cập (Brenner và ctv, 2006). Sự xuất hiện của VDNCở các nước khu vực Trung Đông, Châu Âu và Tây A (Samease và ctv, 2016), đến năm 2015 và 2016, bệnh lây sang Đông Nam Âu, Balkans và Caucasus (OIE, 2017).
Chung Neethling gây ra bệnh VDNC. Phương thức lây truyền chủ yếu là co học bởi các côn trùng chân đốt (OIE, 2013). VDNC phát bệnh hầu hết ở những tháng am áp và âm ướt trong năm liên quan trực tiếp đến sự phát triển của côn trùng (Gari và ctv, 2010). Các nghiên cứu cho thấy chăn nuôi tha rong tại các điểm âm ướt là dé lây truyền VDNC.
Virus VDNC có phạm vi ký chủ hạn chế và không hoàn thành chu kỳ sao chép của nó ở các ký chủ không nhai lại (Shen và ctv, 2011). Bên cạnh đó, VDNC không được báo cáo ở dê cừu ngay cả khi tiếp xúc với trâu bò bị nhiễm bệnh mặc dù các tôn thương da điền hình (Davies, 1991). Các trường hợp viêm da nổi cục tự nhiên được ghi nhận ở trâu nước (Bubalis bubalis) trong một dot bùng phát ở Ai Cập năm 1988, nhưng tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so vói bò (1,6% so với 30,8%) (Constable và ctv, 2017). Trong số bò mắc bệnh, nhóm Bos taurus dé bị mắc bệnh lâm sảng hơn Bos indicus, trâu chau A cũng dé mắc bệnh (Carn và Kitching, 1995).
Các giống bò và moi lứa tuổi đều dé mắc bệnh VDNC, nhưng gia súc non nhạy cảm hơn và bệnh nang hơn (Al-Salihi, 2014). Các triệu chứng VDNC ở gia súc từ nhẹ đến nặng, đặc trưng bởi sốt, nhiều nốt ở da bao phủ ở cô, lưng, đáy chậu, đuôi, các chi và cơ quan sinh dục, niêm mạc, ton thương cũng có thé liên quan đến các mô dưới da và đôi khi là co và các cơ quan nội tạng. Động vật bị ảnh hưởng cũng có biểu hiện qué quặt, hốc hac và ngừng sản xuất sữa. Phù chân và ức, viêm hạch rất nồi bật và đôi khi gia súc bị ảnh hưởng có thé chết.
Ngoài ra, viêm phổi là di chứng thường gặp ở gia súc voi các tôn thương ở miệng và đường hô hấp (AU-IBAR, 2013). Ty lệ mắc bệnh và chết do VDNC có thé tùy thuộc vào giống bò, tình trạng miễn dịch, các vật trung gian liên quan đến sự lây truyền và các chủng phân lập của virus. Ở những vùng dịch, tỷ lệ mắc bệnh thường 10% và chết 1-3% (Babiuk và ctv, 2008b). Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh VDNC ở bò HF và HF lai cao hơn đáng ké so với bò Zebu và bản địa (Gari va ctv, 2011).
Gần đây, Abera và Elhaig đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh VDNC cao hơn ở bò trưởng thành nhưng họ không quan sát thay mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi mà chúng có nguy cơ như nhau (Abera và ctv, 2015). Hơn nữa, VDNC dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn do sản lượng sữa giảm, chất lượng da, suy nhược mãn tính, giảm cân, vô sinh, sây thai, chết. Nó cũng được coi là căn bệnh đáng chú ý, và ở các nước có dịch, nó dẫn đến hạn chế nghiêm trọng đối với thương mại quốc tế (Tuppuraine va ctv, 2017). Chi phí của VDNC lâm sàng trung bình trên các địa bàn nhiễm bệnh ước tính là 6,43 USD/con đối với bò Zebu và 58 USD đối với bò sữa (Gari và ctv, 2011).
Do đó, cần hiểu rõ được đặc điểm sinh học của bệnh VDNC, cơ chế lây bệnh, đặc điểm lâm sang và bệnh lý của bệnh ở gia súc. Virus học và khả năng gây bệnh 1. Đặc điểm sinh học của virus VDNC Họ Poxviridae chứa những loại virus lớn nhất có thé gây bệnh tự nhiên cho hầu hết các động vật nuôi, ngoại trừ chó. Nó được chia thành hai phân họ Chordopoxvirinae, poxvirus của động vật có xương sông và Entomopoxvirinae, poxvirus ở côn trùng (Quinn và ctv, 2016).
Họ Poxviridae được đặc trưng bởi bộ gen lớn và phức tạp bao gồm một phân tử đơn, mạch thang ADN soi kép (dsADN) ma hóa khoảng 200 protein. Các đầu mút nổi tiếp nhau nên phân tử ADN liên tục, không có đầu mút tự do. Poxvirus là virus ADN duy nhất được biết là hoàn thành chu kỳ sao chép của chúng trong tế bào chất. Trong tế bao chất, dsADN được sử dụng làm khuôn mẫu cho cả quá trình sản xuất mRNA và các bản sao của bộ gen cho các virion thé hệ con chau, các enzym của virus chủ yếu làm trung gian cho cả hai quá trình.
Vì các virion lớn và phức tạp, liên quan đến quá trình lắp ráp virion phần lớn vẫn chưa được biết rõ. Virion được giải phóng khỏi tế bào bằng cách nay chồi. Họ Poxviridae sở hữu ít nhất 10 loại kháng nguyên chính với một loại kháng nguyên nucleoprotein chung, tạo ra phản ứng chéo giữa các loài. Có ít nhất 10 enzym chứa trong hạt virus, nhiều enzym trong số đó có chức năng chuyền hóa axit nucleic và sao chép bộ gen (Carter và ctv, 2005).
Caprixvirus là loài có ảnh hưởng nhất đến gia súc nhai lại ở các nước châu Phi và Châu Á (King và ctv, 2012), bao gồm virus viêm da nổi cục (VDNC), virus đậu cừu (SPPV) va virus đậu dê (GTPV). Chúng là những virus ADN chứa khoảng 150. Capsid hoặc nucleocapsid của chúng có hình viên gạch hoặc hình bầu dục chứa bộ gen và các cơ quan bên. Có sự lai chéo ADN rộng rãi giữa các loài tạo ra phản ứng chéo huyết thanh và bảo vệ chéo giữa các thành viên (EFSA, 2015).
Virus VDNC là virus ADN được bao bọc, có bộ gen 151Kbp và bao gồm vùng mã hóa trung tâm được bao bọc bởi các đoạn lặp lại đầu cuối ngược 2,4Kbp giống hệt nhau và chứa 156 gen giả định. Virus này mã hóa 30 điểm tương đồng của protein pox virus được biết là có cấu trúc hoặc không câu trúc có liên quan chặt chẽ vê mặt di truyện và kháng nguyên với virus đậu cừu (SPPV) và virus đậu dé (GIPV) với mức nhận dạng trình tự nucleotide là 96% giữa các loài (Tulman và ctv, 2001). Mặc dù, Capripoxvirus thường được coi là đặc hiệu trên vật chủ, các chủng SPPV và GTPV có thé lây nhiễm chéo tự nhiên hoặc thực nghiệm và gây bệnh cho cả hai loài vật chủ. Ngược lại, virus VDNC có thể lây nhiễm trên thực nghiệm cho cừu và đê, nhưng cho đến nay chưa có mô tả nhiễm VDNC tự nhiên nao cho cừu và đê (El-Kenawy va El-Tholoth, 2010).
Vaccinia vive Oven Gostpox views Fowlpox views Swinepar vis «= Mya view Compan views. tod nh O® pin of Pigeonpox views Varola via a Turtarypox views wid and captive birds Hình 1. Khả năng gây bệnh Virus VDNC 6n định đáng kế trong thời gian dài ở nhiệt độ môi trường xung quanh, đặc biệt là ở dạng vảy khô. Nó có thé tồn tại trong các nốt đa bị hoại tử đến 33 ngày hoặc lâu hơn, các lớp vảy khô trong tối da 35 ngày va ít nhất 18 ngày trong da sống được làm khô trong không khí.
Nó có thê tồn tại trong thời gian dài trong môi trường. Virus này dé bị tổn thương bởi ánh sáng mặt trời và chat tay rửa có chứa dung môi lipid, nhưng trong môi trường tối, chuồng gia súc bi 6 nhiễm, nó có thé tồn tại trong vài tháng. Virus có thé bi bat hoạt ở nhiệt độ 55°C trong 2 giờ va 65°C trong 30 phút. Ngược lại, nó có thé được phục hồi từ các nốt đa được giữ ở -80°C trong 10 năm và dịch nuôi cay mô bị nhiễm bệnh được bảo quản ở 4°C trong 6 tháng.
Nó dễ bi pH kiềm hoặc axit cao nhưng không giảm đáng kê hiệu giá khi giữ ở pH 6,6-8,6 trong 5 ngày ở 37°C. Virus nhạy cảm với ete 20%, chloroform, fomalin 1%, phenol 2% trong 15 phút, natri hypoclorit 2-3%, hợp chat iod pha loãng 1:33 va các hợp chat amoni bậc bốn 0,5% (OIE, 2013). Lâm sàng bệnh và bệnh lý Biéu hiện lâm sàng Thời gian từ khi virus xâm nhập đến khi xuất hiện biểu hiện lâm sàng là 7-14 ngày trong điều kiện thí nghiệm, không phân biệt đường lây nhiễm (Carn và Kitching, 1995) và 2-5 tuần ở trường hợp tự nhiên (Tuppuraine và ctv, 2005). Bệnh VDNC có thể được phân thành các dạng nhẹ và nặng dựa trên số lượng nốt và sự xuất hiện các biến chứng, lượng virus cũng như tính nhạy cảm của vật chủ và mật độ côn trùng.
Theo đó, sự xuất hiện của một hoặc hai nốt (Hình 2B) hoặc nốt trong vòng 2 ngày sau khi bắt đầu sốt (đường kính 1-5cm), trầm cảm, chán ăn, tiết nhiều nước bọt, chảy nước mắt và mũi, da mặt và hốc hác là biểu hiện lâm sàng của gia súc bị bệnh. Ngoài ra, có thé quan sát thay các tôn thương dạng nốt gây đau đớn và xung huyết trên cơ thé động vat, đặc biệt là da mõm, mu lưng, chân, bùi, day chậu, mi mắt, tai dưới, niêm mạc mũi và miệng (Salib va Osman, 2011). Trong những trường hợp nặng có thé kéo dài 7-12 ngày, sốt cao liên tục 40-41,5°C, suy nhược nghiêm trọng, biếng ăn và xuất hiện một vài hoặc hàng trăm nốt san và thường có kích thước khá đồng đêu ở cùng một con vat (Weiss, 1968). Các nốt này cứng và hoi nhô lên, từ đó chúng được ngăn cách bởi một vòng xuất huyết hẹp (Hình 1.3A), liên quan đến biểu bi, ha bì, lớp dưới da liền kề và cơ.
Các nốt san có thé biến mat, nhưng chúng có thể tồn tại dưới dạng cục cứng hoặc trở nên ướt, hoại tử và bong tróc hoặc loét (Hình 1. Các tổn thương nơi da bị mat có thé nhìn thấy trong thời gian dài. Khi các tốn thương liên kết lại, các vùng mô thô lớn có thê lộ ra và những vùng này bị ấu trùng ruồi xâm nhập (Constable và ctv, 2017).