ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tay-chân-miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra, có hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71). Bệnh chủ yếu lây theo đường tiêu hóa; Biểu hiện chính của bệnh là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng nốt phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, đầu gối,. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp và dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời [3]. Trên thế giới, Bệnh TCM được phát hiện ở hầu hết các nước, đặc biệt ở Châu Á đã xảy ra các vụ dịch lớn với số mắc, số tử vong do bệnh TCM gia tăng và đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng.
Tại Việt Nam, bệnh TCM được ghi nhận đầu tiên vào năm 2003 [30]. Từ những năm 2005-2010 số bệnh nhân có xu hướng gia tăng mạnh và gây tử vong ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Từ 2011-2016 bệnh TCM diễn biến phức tạp; Năm 2017 tính đến ngày 17 tháng 12 năm 2017, thống kê từ 63 tỉnh đã có 48.009 trường hợp mắc bệnh TCM nhập viện trong đó có 01 cas tử vong[31]. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi; Bệnh xuất hiện rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong đó các tỉnh phía nam chiếm hơn 60% tổng số ca bệnh trên cả nước.
Bệnh có xu hướng tăng cao vào các thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm. Hiện tại, bệnh chưa có vắc-xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu [2]. Do đó, biện pháp quan trọng và hữu hiệu để phòng, chống lay lan bệnh TCM cho trẻ là giữ vệ sinh và cách ly trẻ trước và sau khi mắc bệnh; Cả hai yếu tố này phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hành xử trí của người chăm sóc trẻ [2]. Tại tỉnh Tiền Giang năm 2016 toàn tỉnh có 4009 ca mắc trong đó có 01 trường hợp tử vong; Năm 2017, tính đến 10/9/2017 toàn tỉnh có 1675 ca mắc, với 19 ổ dịch TCM trong đó có 956 trường hợp nhập viện, chiếm 57,1% trên tổng số ca mắc và tăng 34,6% so với số nhập viện cùng kỳ [13].
Tại thị xã Gò Công, theo báo cáo của Trung tâm Y tế thị xã Gò Công, năm 2013 toàn thị xã có 82 ca mắc TCM, năm 2014 là 168 ca, năm 2015 là 112 ca, năm 2016 là 87 ca, cao nhất là năm 2017 với 210 ca gấp 2,4 lần so với năm 2016. Mặc 2 dù ngành Y tế đã triển khai đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông phòng, chống bệnh TCM nhưng nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả tốt, tình hình mắc bệnh TCM trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp [20]. Tại thị xã Gò Công chưa có nhiều nghiên cứu về thực hành xử trí khi mắc bệnh TCM của người chăm sóc chính khi trẻ mắc bệnh; Câu hỏi đặt ra là đặc điểm bệnh TCM tại thị xã Gò Công như thế nào? Việc thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính và các yếu tố nào liên quan tại đến thực trạng này? Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại Gò Công, Tiền Giang, năm 2017” với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị phù hợp giúp địa phương xây dựng chương trình can thiệp, cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phòng, chống bệnh tay chân miệng hiệu quả hơn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2017. Mô tả thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2018. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2018. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Định nghĩa dịch tễ học Dịch tễ học được Last định nghĩa là “việc nghiên cứu sự phân bố và các yếu tố quyết định của các tình trạng hay sự kiện liên quan đến sức khoẻ trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa và kiểm soát các vấn đề sức khoẻ”. Nhà dịch tễ học không chỉ quan tâm tới tử vong, bệnh tật mà còn cả với trạng thái sức khoẻ tốt và quan trọng nhất là các giải pháp tăng cường sức khoẻ. Từ “bệnh” bao hàm tất cả sự thay đổi không mong muốn của tình trạng sức khoẻ, bao gồm cả chấn thương và sức khoẻ tâm thần. Giới thiệu chung về bệnh Tay chân miệng.
Bệnh tay-chân-miệng là một hội chứng bệnh truyền nhiễm ở người do vi rút đường ruột của họ Picornaviridae gây ra. Trong đó có 2 nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus (CA16) và Enterovirus 71 (EV71) [2]. Lịch sử của bệnh Tay chân miệng Bệnh được mô tả lần đầu tại Toronto - Canada năm 1957 [1], đến năm 1959 trong vụ dịch tại Birmingham - Anh, bệnh đã được đặt tên TCM. Cũng tại vụ dịch này, CA16 đã được xác định là căn nguyên gây bệnh.
Cho đến năm 1974, căn nguyên EV71 đã được Schmidt và cộng sự mô tả dựa trên 20 bệnh nhân bị bệnh TCM có biến chứng thần kinh trung ương, trong đó có 1 ca tử vong tại California (Mỹ) vào giữa những năm 1969 và 1972. Sau đó, nhiều vụ dịch bùng phát được ghi nhận tại Mỹ (1972 - 1977 và 1987), Úc (1972 - 1973 và 1986), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1973 - 1978), Bun-ga-ri (1975), Hung-ga-ri (1978), Pháp (1979), Hồng Kông (1985). Trong các vụ dịch trên, EV71 là căn nguyên gây biểu hiện lâm sàng đa dạng, bao gồm viêm màng não vô khuẩn, viêm não, liệt, bệnh phổi cấp tính và viêm cơ tim [30]. Cùng với CA16, EV71 là căn nguyên chính gây bệnh TCM.
Bắt đầu từ cuối những năm 1990, các vụ dịch TCM đã lan rộng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với một tỷ lệ lớn có biểu hiện bệnh lý thần kinh và tim mạch [30]. Tại Việt Nam, TCM do EV71 được phát hiện và phân lập đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003; Các chủng EV71 lưu hành ở khu vực phía Nam; Các 5 chủng này thuộc nhiều nhóm, tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng giữa các nhóm và phân nhóm của EV71 [6]. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh tay chân miệng 1. Tác nhân gây bệnh Bệnh TCM gây ra do nhóm vi-rút đường ruột; Các vi-rút có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi-rút Coxsackies, Echo và các vi-rút đường ruột khác, các vi-rút đường ruột týp 71 (EV71) và CA16.
CA16 là một tác nhân gây bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục; Trường hợp tử vong của nhiễm trùng CA16 là rất hiếm. Vi-rút EV71 có thể gây ra biến chứng nặng và dẫn đến tử vong; Các vi-rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ. Vi-rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 400C. Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi-rút [3].
Triệu chứng lâm sàng: Ở giai đoạn ủ bệnh 3-7 ngày; giai đoạn khởi phát từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày. Và giai đoạn toàn phát có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh như loét miệng, vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt, phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông tồn tại trong thời gian ngắn dưới 7 ngày có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét bội nhiễm, sốt nhẹ, nôn. Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng; Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh. Còn ở giai đoạn lui bệnh thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng [3].
Phân độ và điều trị: Về phân độ lâm sàng bệnh TCM được phân độ thành độ 1, độ 2a, độ 2b, độ 3 và độ 4.Về nguyên tắc điều trị: hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm); Theo dõi sát, phát hiện sớm, phân độ đúng và điều trị phù hợp. Đối với trường hợp nặng phải đảm bảo xử trí theo nguyên tắc hồi sức cấp cứu theo quy định. Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng [3]. Nguồn truyền và phương thức lây truyền Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi-rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người – người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [3]. Tại nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trên cả nước. Vi-rút có khả năng đào thải qua phân từ 2 – 4 tuần, giai đoạn lây mạnh nhất là tuần đầu tiên mắc bệnh, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm. Vi-rút cũng tồn tại nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần.
Vi-rút cũng có nhiều trong dịch tiết các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân[2]. Người bệnh hay người lành mang vi-rút không triệu chứng là ổ chứa tác nhân gây bệnh. Vi-rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5 – 7 ngày.