Chương 1 TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học bệnh sỏi mật 1. Dịch tễ học bệnh sỏi mật trên Thế giới 1. Tỷ lệ bệnh Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sỏi mật, các nghiên cứu cho thấy sỏi mật là một bệnh khá phổ biến ở các quốc gia khác nhau ở các nước phát triển cũng như đang phát triển [48], [86], [96].
Tỷ lệ hiện mắc sỏi mật chung dao động trong khoảng 10 - 15% [96], tỷ lệ cao nhất gặp ở các nước Scandinavian, Chile và những người dân gốc Mỹ. Các quốc gia có tỷ lệ bị sỏi mật ít hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ai Cập. Tỷ lệ sỏi mật đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng tỷ lệ này có liên quan đến sự thay đổi lối sống [70], [92]. Nghiên cứu của Portincasa Piero và cộng sự (cs) (2006) cho biết tỷ lệ sỏi mật ở Mỹ và Châu Âu dao động 10 - 15% [91].
Phân bố bệnh sỏi mật Tại Mỹ, ở một số chủng tộc khác nhau thì có tỷ lệ sỏi mật cũng khác nhau. Nghiên cứu Stintoncho L. Tỷ lệ sỏi mật ở những người Mỹ da đen hay ở người vùng Đông Á thấp hơn các chủng tộc khác và tỷ lệ mắc bệnh này hiếm gặp hơn ở những người vùng cận sa mạc Sahara [107]. Nghiên cứu của Ruhl Constance E.
và cs (2011) tại Mỹ trên 14.228 người tuổi từ 20 - 74 trong năm cho kết quả về tỷ lệ bệnh sỏi mật 7,1%, và tỷ lệ phải phẫu thuật cắt bỏ túi mật là 5,3%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sỏi mật làm tăng nguy cơ tử vong cho người dân Mỹ trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong [94]. Báo cáo nghiên cứu của Shaffer Eldon A. (2006) cho 4 thấy hàng năm ở Mỹ có hơn 700.000 ca phẫu thuật cắt bỏ túi mật với chi phí y tế hơn 6,5 tỷ USD; gánh nặng này chủ yếu gặp ở người Mỹ gốc Ấn Độ, ít xuất hiện hơn ở người Mỹ da trắng [100].
Sỏi mật ở các nước phương Tây thường là sỏi túi mật và có thành phần chủ yếu cholesterol (với thành phần sỏi 50 - 80% là cholesterol) [37], [114]. Để đánh giá tỷ lệ hiện mắc sỏi mật ở Achentina, Brasca A. và cs (2000) đã tiến hành nghiên cứu chọn ngẫu nghiên dân số thành phố Rosario với tổng số đối tượng nghiên cứu là 1.173 người, tỷ lệ hiện mắc sỏi mật ở Achentina 20,5% (23,8% ở nữ và 15,5% ở nam) [51]. Farzaneh Sheikh Ahmad E và cs (2007) nghiên cứu phẫu tích 253 xác người trên 13 tuổi, thấy tỷ lệ hiện mắc sỏi mật chung 6,3% (trong đó 4,7% ở nam; 8,6% ở nữ; sự khác nhau về giới ở bệnh nhân bị bệnh sỏi mật không có ý nghĩa thống kê với p = 0,216), có mối liên quan thuận giữa tuổi và tỷ lệ mắc sỏi mật (với p = 0,033) và thành phần sỏi phổ biến nhất là cholesterol và oxalate [62].
Nghiên cứu của Halldestam Ingvar (2008) ở Thụy Điển, tỷ lệ người trưởng thành bị bệnh sỏi mật là 17,2% ở nữ giới và 12,4% ở nam giới; tỷ lệ sỏi mật tăng dần theo tuổi và cao hơn ở nữ; tỷ lệ sỏi mật ở nữ nhóm tuổi từ 35 - 44 là 10,0%; 45 - 54 là 3,9%; 55 - 64 là 13,5%; 64 - 74 là 5,7% và ≥ 75 là 26,7%. Tỷ lệ sỏi mật ở nam từ 45 - 54 là 7,4%; 55 - 64 là 7,8%; 64 - 74 là 7,9% và ≥ 75 là 12,5% [66]. Tại Italia, nghiên cứu trên 11.229 người tuổi từ 29 - 69 được siêu âm để chẩn đoán sỏi mật của Festi D và cs (2010) cho kết quả: tổng số bệnh nhân mắc sỏi mật là 856 với tỷ lệ hiện mắc 7,1%; trong số các bệnh nhân bị mắc sỏi mật 73,1% bệnh nhân có triệu chứng của bệnh; 11,8% có triệu chứng bệnh mức độ nhẹ và 15,1% có biểu hiện triệu chứng bệnh mức độ nặng [63], [51]. Nghiên cứu ở Anh của Heaton K.
Tỷ lệ hiện mắc sỏi mật không chỉ cao ở các nước phát triển có mức sống cao mà còn phổ biến ở các nước đang phát triển có mức sống thấp và hoạt 5 động thể lực nhiều.L và cộng sự (2000) nghiên cứu cắt ngang trên cộng đồng sống quanh các khu vực ngoại ô Liam, Peru và so sánh tỷ lệ mắc sỏi mật giữa người dân bản xứ miền biển và dân bản xứ vùng núi cao Sierra, tổng số đối tượng nghiên cứu là 1.534 trường hợp trên 15 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc sỏi mật ở nữ (16,1/100 dân, 95% CI: 13,8 - 18,2) cao hơn ở nam (10,7/100 dân, 95% CI: 8,0 - 13,4). Nữ có yếu tố nguy cơ mắc sỏi mật cao hơn ở nam, đặc biệt khi họ sử dụng thuốc uống tránh thai hoặc có nhiều hơn 4 con [84]. Nghiên cứu của Salinas G.
và cs (2004), tỷ lệ mắc sỏi mật chung ở Lima, Peru là 15,0%. Tỷ lệ mắc sỏi mật ở nam giới là 14,0% và nữ giới là 16,0% [95]. Theo nghiên cứu của Chapman B. Nghiên cứu của Dhar C.S và cộng sự (2001) trên 1332 đối tượng tuổi trên 15 ở vùng nông thôn Banglades cho thấy tỷ lệ sỏi mật là 5,4%; trong đó nữ là 7,7%, nam là 3,3%; tỷ lệ này tăng lên từ 0,9% ở tuổi dưới 30 lên 10% ở tuổi trên [58].
Nghiên cứu tại Arập của Abu - Eshy S. Nghiên cứu cho thấy, sỏi mật ở Châu Á - vùng nhiệt đới phần lớn là sỏi ở ống mật, sỏi có thành phần chủ yếu là sắc tố mật [50], [107], [114] và tỷ lệ sỏi ống mật chủ kết hợp với sỏi trong gan chiếm tỷ lệ 20% - 40% trong tổng số các loại sỏi mật. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ sỏi túi mật và loại sỏi Cholesterol có khuynh hướng gia tăng, có lẽ do ảnh hưởng của môi trường và ăn uống trong khi đó sỏi ống mật lại có xu hướng giảm do vệ sinh môi trường được cải thiện và ý thức vệ sinh của người dân được nâng cao hơn [58]. và cộng sự nghiên cứu trên 1.441 người Đài Loan ở lứa tuổi trên 60 thấy: 171 người có sỏi túi mật và 65 người đã được mổ cắt bỏ túi mật do sỏi.
Tỷ lệ sỏi túi mật nói chung trong nhóm nghiên cứu chiếm 16,6% [55]. Nghiên cứu của Chen C.H và cs (2006) ở Đài Loan, tỷ lệ sỏi mật chung là 5,0%. Tỷ lệ sỏi mật ở nam giới là 4,6% và ở nữ giới là 5,4% [53]. Nghiên cứu của Huang J.
6 Nghiên cứu của Huang Zhi - Quang (1998), trong những năm 50 ở Trung Quốc sỏi ống mật chủ chiếm 50% tổng số sỏi mật, tỷ lệ sỏi trong gan 38%; giai đoạn từ 1983 đến 1985 sỏi ống mật chủ chiếm 36,2% trùng hợp với tỷ lệ tăng sỏi túi mật từ những năm 70. Mười năm sau, mô hình sỏi mật ở Trung Quốc đã thay đổi, sỏi túi mật tăng từ 69,3% lên 78,9% vào năm 1992 trong khi sỏi ống mật chủ giảm xuống từ 30,7% còn 21,1% [71]. Nghiên cứu hồi cứu tại bệnh viện trường Y Trung Quốc từ tháng 01 - 12 năm 2000 cho thấy tỷ lệ hiện mắc sỏi túi mật 7,8% ở nữ và 6,5% ở nam [77]. Nghiên cứu trên 10.461 công nhân hóa dầu của Mao Y.
Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Singh V. và cs (2001) trên 248 người đến khám tại các cơ sở y tế tại vùng Chandigarh, có 31 người trong tổng số 248 người được siêu âm phát hiện có sỏi mật, tỷ lệ hiện mắc sỏi mật 12,5%. Trong số bệnh nhân sỏi mật có 27 bệnh nhân nữ và 04 bệnh nhân nam. Nghiên cứu về sỏi mật ở vùng Đông Nam Iran của Ansari - Moghaddam A.
và cs (2016), tỷ lệ sỏi mật ở người trưởng thành từ 30 tuổi trở lên tại vùng này là 2,4%. Tỷ lệ sỏi mật ở nam giới là 1,4% và ở nữ giới là 4,0%. Tỷ lệ sỏi mật ở người từ 30 - 44 tuổi là 1,3% và ≥ 45 tuổi là 3,7% [44]. Sỏi mật là bệnh có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
Theo Bateson nghiên cứu tại Anh, tỷ lệ mới mắc sỏi mật ở giai đoạn 1974 - 1998 cao hơn so với tỷ lệ mắc sỏi mật giai đoạn 1953 - 1973. Tỷ lệ phẫu thuật cắt bỏ túi mật ngày càng tăng, đặc biệt là từ những năm 90 (từ khi bắt đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt bỏ túi mật) [49].S (2010), cùng với sự thay đổi thói quen ăn uống, ít tập thể dục, tăng béo phì. thì tỷ lệ bệnh sỏi mật sẽ có tăng lên trên toàn thế giới [90]. Về tỷ lệ mắc mới sỏi mật: tại Italia, nghiên cứu trên 9.611 người tuổi từ 30-79 của Festi Davide và cs (2008), kết quả tỷ lệ mắc mới sỏi mật 0,67% /năm, 7 trong đó tỷ lệ mắc mới sỏi mật ở nam 0,66%/năm và ở nữ là 0,81%/năm [64].
Nghiên cứu của Halldestam I. Sỏi mật không chỉ có tỷ lệ hiện mắc và mới mắc cao mà còn có xu hướng tăng theo thời gian. Không chỉ gặp ở người trưởng thành, sỏi mật đang có xu hướng gia tăng và xuất hiện ở trẻ em, thanh thiếu niên. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do thay đổi thói quen ăn uống, lối sống và các hành vi có liên quan đến sức khỏe.
Nghiên cứu của Kratzer W. Do đó các giải pháp dự phòng bệnh cần phải tập trung chú ý vào xu hướng tăng dần của bệnh [90], đặc biệt là sự xuất hiện của bệnh ở nhóm đối tượng là trẻ em. Dịch tễ bệnh sỏi mật ở Việt Nam 1. Tỷ lệ bệnh Cho đến nay, Việt Nam vẫn còn ít nghiên cứu cơ bản về dịch tễ học bệnh sỏi mật trong cộng đồng.
Các nghiên cứu về sỏi mật tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào mắc bệnh sỏi mật tại bệnh viện [26], [27], [31], do vậy không phản ánh được hình ảnh dịch tễ học của sỏi mật ở cộng đồng. Gần đây đã có một số nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học của sỏi mật ở cộng đồng, các nghiên cứu này phối hợp với các nghiên cứu lâm sàng về sỏi mật đã ngày càng làm rõ hơn hình ảnh dịch tễ học và lâm sàng của bệnh sỏi mật ở Việt Nam. Ngay từ công trình đầu tiên của Huard, Autret, Tôn Thất Tùng, thời gian trước năm 1945 các tác giả đã nhận thấy những điểm khác nhau cơ bản giữa sỏi mật ở Việt Nam với sỏi mật ở các nước Châu Âu, đó là: sỏi cholesterol hiếm gặp trong khi sỏi sắc tố mật và sỏi hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao, sỏi tạo quanh xác ký sinh trùng đường ruột (xác giun đũa) [3].