Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số đặc điểm cấu tạo và sinh lý da của gia súc 1. Cấu tạo da Da có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp biểu mô trên mặt gọi là lớp thượng bì, kế tiếp là lớp mô liên kết dưới gọi là lớp đệm (hay lớp trung bì), phía dưới lớp trung bì là lớp hạ bì (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26].1: Cấu tạo da của gia súc * Lớp thượng bì Lớp thượng bì là tầng ngoài cùng của da, nó gồm nhiều tế bào biểu mô dẹp.
Tế bào thượng bì ngoài nhất là tế bào chết đã hóa sừng. Tế bào thượng bì không có mạch máu nên vi khuẩn không thể xâm nhập vào cơ thể được, nó dựa vào dịch bạch huyết để tiến hành trao đổi chất. Lớp tế bào ở tầng sâu phát triển phân ra nhiều tế bào mới, tế bào già bị đẩy ra bề mặt, dần dần hóa sừng thành “vỏ da” rơi rụng. Chất sừng là protein có chứa lưu huỳnh, có thành phần khác nhau tùy theo loài, tuổi, giới tính, vị trí cơ thể (Trần Cừ, 1975)[5].
* Lớp trung bì Lớp trung bì ở dưới biểu bì do mô liên kết tạo thành. Tính đàn hồi và tính bền của da do hai loại sợi quyết định là sợi keo và sợi đàn hồi. Sợi keo chiếm 98% trong lớp trung bì, nó quyết định tính bền. Sợi đàn hồi chiếm 1,5% trong lớp trung bì, nó quyết định tính co dãn của da.
Ngoài hai sợi trên còn có sự phân bố các loại tế bào 4 mô liên kết, rất nhiều đầu mút dây thần kinh ngoại biên, mạch máu, mạch bạch huyết… chịu các trách nhiệm khác nhau của da (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26]. * Lớp hạ bì Dưới lớp trung bì là lớp hạ bì được cấu tạo bởi mô liên kết thưa, nối trung bì với các cơ quan bên dưới giúp cho da trượt được trên các cấu trúc nằm dưới. Tùy vùng của cơ thể ở hạ bì có thể có những lớp mỡ. Các lớp mỡ này có tác dụng đệm cho các cơ quan bên dưới da tránh tổn thương và điều hòa thân nhiệt.
Dưới lớp mỡ còn có các lớp cơ là lớp sâu nhất của da. Tác dụng của tầng cơ là làm rung da nhờ đó mà có tác dụng xua đuổi côn trùng hoặc vật bám vào da. Ngoài ra, trong hạ bì còn chứa nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi và bao lông (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26]. * Lông Gồm có hai phần là phần trục và phần gốc lông.
Phần lộ ra ngoài da là phần trục lông, phần còn lại nằm trong bao lông là phần gốc. Trục lông do tế bào gốc tạo thành, thường có ba lớp (lớp ngoài là vẩy, lớp giữa là phần da, trong cùng là phần tủy). Tầng vẩy do tế bào hóa sừng tạo thành tác dụng bảo vệ phần trong lông, tầng vỏ là tầng thể ống do tế bào hình thoi nối với nhau một cách chặt chẽ. Tầng tủy do mô thừa tạo thành gồm có khí bào và có sắc tố có tác dụng cách nhiệt.
Gốc lông nằm trong túi thượng bì. Chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát dục của lông lấy từ mao mạch xung quanh (Trần Cừ, 1975)[5]. * Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da Mạch máu: Những động mạch và tĩnh mạch của da nối với nhau bằng lưới mao mạch chạy song song với bề mặt của da. Mạch bạch huyết: bắt nguồn từ những mao mạch kín, nằm trong nhú trung bì sau đó đổ vào lưới mao mạch bạch huyết dưới nhú đến tầng sâu của trung bì tạo thành lưới bạch huyết trong trung bì.
Từ lưới này lại đổ vào tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết dưới da. Thần kinh: Những nhánh thần kinh của da có hai nguồn gốc: giao cảm và não tủy. Những nhánh thần kinh này đan với nhau tạo thành những đám rối ở hạ bì. * Các bộ phận phụ của da Tuyến da là dẫn xuất của biểu bì, chủ yếu có hai loại tuyến là tuyến mồ hôi và tuyến mở.
5 - Tuyến mồ hôi là tuyến ống đầu phía dưới cuộn lại thành búi nằm trong tầng dưới của lớp chân bì. Đầu phía trên vòng xoắn ốc xuyên qua biểu bì và đổ ra ngoài mặt da. Tuyến mồ hôi tạo mùi đặc trưng cho từng loài. Tuyến mồ hôi của chó chủ yếu nằm ở cầu đệm bốn chân (Trần Cừ, 1975)[5].
- Tuyến mở (hay tuyến nhờn) là tuyến nằm trong chân bì. Tác dụng làm mềm mại, tránh nứt nẻ, tránh thấm nước. Tác dụng của tuyến là bảo vệ, phòng vệ, thoát nhiệt,… (Trịnh Hữu Bằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)[1]. Tuyến sữa: Là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo sữa, tuyến này chỉ thấy trên thú cái.
Tuyến sữa là một khối tròn dẹp nằm trong hạ bì đẩy da phồng lên. Chức năng của da Da là lớp ngăn cách cơ thể với môi trường bên ngoài nên có nhiều chức năng quan trọng như: bảo vệ cơ thể chống lại sự mất nước và bốc hơi nước, cơ quan cảm giác nhiệt và đau, bảo vệ cơ thể chống lại những tác động cơ học, sự xâm nhập của vi sinh vật, ký sinh trùng và độc tố, da tham gia vào chức năng hô hấp và điều hòa thân nhiệt, ngăn ngừa mất nước cho cơ thể, tổng hợp 7-dehydrocholesterol để chuyển hóa thành vitamin D3 bởi tia cực tím mặt trời, da thực hiện chức năng bài tiết nước, muối khoáng và chất nhờn, dự trữ mỡ và nước (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)[9]. Một số đặc điểm sinh học của chó 1. Nguồn gốc của chó Chó nhà được nuôi hiện nay có nhiều nguồn gốc khác nhau.
Tổ tiên loài chó đã được con người nuôi và thuần hóa cách đây khoảng 13. Vùng Đông Nam Á là khu vực thuần hóa chó lâu đời nhất, từ đó chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước phương Đông, sau đó là Châu Mỹ. Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ thời kỳ đồ đá mới, khoảng 3.000 năm trước Công Nguyên (cách đây 5- 6 nghìn năm). Các tác giả cho biết qua thời gian thuần hóa, nuôi dưỡng và chọn lọc, cải tạo liên tục, con người đã tạo ra hơn 400 loài chó khác nhau.
Từ loài chó tầm vóc nhỏ chỉ nặng 200 – 300 g đến các loài chó chăn cừu Châu Âu có tầm vóc lớn, nặng 50- 60kg, được gọi là loài chó nhà (Canis familiars), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia). 6 Theo Phạm Ngọc Thạch (2010)[38], loài chó được con người thuần hóa từ rất sớm và được nuôi rộng rãi ở khắp các quốc gia trên thế giới. Chó nhà là họ hàng của chó sói, đã từng sống hoang dã ở khắp Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ. Những người Ai Cập đã biết chăn nuôi chó từ rất lâu đời.
Trên nghìn năm, chó đã biết giúp đỡ, làm thú cảnh của con người. Chó giúp người chăn cừu, chó giúp con người đi săn, canh giữ nhà và các trang trại. Ngày nay chó làm được rất nhiều các công việc: chó dẫn đường cho người mù, được huấn luyện để mang đồ. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của loài chó là lòng trung thành.
Phân nhóm chó, mèo * Phân nhóm chó mèo theo giống chó Theo Jiongxin Liu và cs (2012)[63], dựa vào đặc điểm sinh học của chó, các giống chó được phân loại dựa vào tài liệu phân loại giống chó. Tôi tiến hành phân loại thành 3 nhóm chó như sau: - Chó nội (hay chó ta): là các giống chó thuần chủng tồn tại từ lâu đời và gắn bó với đời sống người Việt từ nông thôn đến thành thị như: chó vàng, chó Lài (Dingo Đông Dương), H’Mông, đặc biệt là chó Phú Quốc. - Chó lai: là con lai giữa chó nội và chó ngoại và được đẻ tại Việt Nam. - Chó ngoại (hay chó tây): là những giống chó có nguồn gốc ngoại nhập từ các nước khác như giống chó Fox.
Chihuahua, Akita, Bulldog, Dobermann.; các con lai của chó ngoại với nhau và đẻ tại Việt Nam tôi ghép chúng vào chó ngoại. Chó nội (còn gọi là chó cỏ, chó ta, chó mực, chó vện,…) là tên gọi chung cho giống chó thuần chủng có nguồn gốc tại Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có 4 giống chó nội có giá trị cao và thường gọi là “Tứ đại khuyển” gồm: Chó Bắc Hà (Lào Cai), chó Phú Quốc (Kiên Giang), chó H’Mông (vùng đồng bào dân tộc H’Mông) và chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học là Canis lupus dingo). Đặc điểm chung của các giống chó nội của Việt Nam là có tầm vóc trung bình, khi trưởng thành có khối lượng từ 10 – 12 kg.
Chó Lài khi trưởng thành có chiều cao từ 45 – 65 cm, khối lượng từ 15 – 30 kg. Chiều dài cơ thể lớn hơn chiều cao, con đực có khối lượng lớn hơn con cái. Chó Lài thuần chủng bốn chân có lông màu trắng bít tất, chóp lông đuôi màu trắng (đuôi bông lau. Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2:1 đầu thon, dài vừa phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo 7 kiểu chó sói, mõm có hình chữ V và ngắn, mũi có màu đen, lưỡi có màu hồng hoặc có đốm màu đen.
Hai tai nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng về phía trước, tai to vừa phải, cân đối, không nhọn, phía trong tai ít lông, nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng vuông góc với đỉnh hộp sọ. Các màu lông phổ biến là lông đỏ lửa, đen toàn thân bốn mắt trắng, đen tuyền, xám tro, đốm (khoang), nâu và vện. Giống chó nội hiện nay đã được nuôi lâu đời, thích nghi với điều kiện khí hậu và chăm sóc nên có tính kháng bệnh cao. * Phân nhóm chó mèo theo lứa tuổi Căn cứ theo độ tuổi của chúng, chúng tôi phân chó mèo nghiên cứu thành 3 nhóm lứa tuổi như sau: + Nhỏ hơn hoặc bằng 1 tuổi + Lớn hơn 1 tuổi đến 2 tuổi + Lớn hơn 2 tuổi đến 3 tuổi + Lớn hơn 3 tuổi 1.
Các đặc điểm sinh lý của chó Theo tác giả Phạm Ngọc Thạch (2010)[36] cho biết: Chó trưởng thành khỏe mạnh có các chỉ tiêu sinh lý không thay đổi như sau: - Thân nhiệt: 37,5oC - 39oC. Mùa hè thân nhiệt có thể tăng 0,2oC, mùa đông có thể giảm 0,2oC. Khi hoạt động thân nhiệt có thể tăng 0,5oC. Khi ngừng hoạt động thân nhiệt lại bình thường.
- Nhịp tim: 70 nhịp/phút. Mùa đông nhịp tim có thể giảm 5 nhịp khi thời tiết lạnh. Mùa hè, nhịp tim tăng 5 nhịp, khi hoạt động mạnh nhịp tim có thể tăng 10 - 20 nhịp/phút. Khi ngừng hoạt động nhịp tim trở lại bình thường.
- Nhịp thở (hô hấp): Trung bình: 50 - 60 nhịp/phút.