Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại huyện yên thế tỉnh bắc giang

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại huyện yên thế, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

86
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại Yên Thế Bắc Giang

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh sán dâygà thả vườn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm sán dây cao, đặc biệt ở các đàn gà nuôi thả vườn do điều kiện môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng. Dịch tễ học chỉ ra rằng sán dây ký sinh chủ yếu ở ruột non và ruột già, gây tổn thương niêm mạc ruột, dẫn đến viêm ruột, tắc ruột và thậm chí tử vong ở gà. Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố nguy cơ như mùa vụ, tuổi gà và điều kiện vệ sinh chuồng trại.

1.1. Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà tại Yên Thế dao động từ 30-50%, tùy thuộc vào mùa vụ và điều kiện chăn nuôi. Gà con có tỷ lệ nhiễm cao hơn do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Các loài sán dây phổ biến bao gồm Raillietina tetragona, Raillietina cesticillusDavainea proglottina. Sự lây nhiễm chủ yếu qua đường tiêu hóa khi gà ăn phải vật chủ trung gian như kiến, ruồi hoặc ốc cạn.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ bệnh

Các yếu tố như mùa mưa, độ ẩm cao và vệ sinh chuồng trại kém làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gà nuôi thả vườn có tỷ lệ nhiễm cao hơn gà nuôi nhốt do tiếp xúc nhiều với môi trường bên ngoài. Điều này đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại.

II. Biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả để kiểm soát bệnh sán dâygà thả vườn. Các biện pháp bao gồm sử dụng thuốc tẩy sán như niclosamidepraziquantel, cải thiện vệ sinh chuồng trại và quản lý thức ăn, nước uống. Kết quả thử nghiệm cho thấy hiệu quả của thuốc tẩy sán đạt trên 90% trong việc loại bỏ sán dây khỏi cơ thể gà.

2.1. Sử dụng thuốc tẩy sán

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của hai loại thuốc tẩy sán là niclosamidepraziquantel. Kết quả cho thấy praziquantel có hiệu quả cao hơn, đạt tỷ lệ loại bỏ sán dây lên đến 95%. Thuốc được khuyến cáo sử dụng định kỳ để phòng và trị bệnh sán dây ở gà.

2.2. Cải thiện quản lý chăn nuôi

Các biện pháp quản lý bao gồm vệ sinh chuồng trại thường xuyên, loại bỏ vật chủ trung gian như kiến và ruồi, và cung cấp thức ăn, nước uống sạch sẽ. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa phòng bệnh sán dây và quản lý chăn nuôi để đạt hiệu quả tối ưu.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp những thông tin khoa học quan trọng về đặc điểm dịch tễbiện pháp phòng trị bệnh sán dâygà thả vườn. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp người chăn nuôi tại Yên Thế, Bắc Giang và các khu vực lân cận áp dụng các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại do sán dây gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi.

3.1. Đóng góp khoa học

Nghiên cứu đã bổ sung thêm kiến thức về các loài sán dây ký sinh ở gà và đặc điểm dịch tễ của chúng. Đây là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh ở gàsán dây ở gia cầm.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu được áp dụng rộng rãi trong thực tế chăn nuôi, giúp người dân chủ động phòng và điều trị bệnh sán dây. Điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm tại Bắc Giang và các khu vực khác.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh sán dây là bệnh thường gặp ở gà, đặc biệt là gà thả vườn. Bệnh xảy ra phổ biến ở các đàn gà nuôi của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Sán dây ký sinh ở ruột non và ruột già, dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột gây tổn thương.

Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, viêm xoang bụng. Sán dây lấy dưỡng chất của gà làm gà gầy yếu, còi cọc và có thể chết nếu mắc bệnh nặng. Sán dây ở gà là 1 trong 4 lớp (Mononenea, Trematoda, Cestoda, Mesozoa) của ngành này, chỉ có các đại diện có đời sống ký sinh, không có các đại diện sống tự do. Chúng ký sinh ở tất cả các lớp của động vật có xương sống: chim, thú, bò sát, ếch nhái.

Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được trên ba ngàn loài sán dây, ở Việt Nam đã phát hiện được 148 loài sán dây ký sinh ở người và động vật Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7]. Thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài sán dây ký sinh ở gà 1. Thµnh phÇn loµi s¸n d©y ký sinh ë gµ Theo Nguyễn Thị Kỳ (chuyên gia lớn nhất nghiên cứu về sán dây ở Việt Nam) đưa ra danh sách 12 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam và cũng theo Phan Thế Việt (1977) [24]. Đến năm 1996, Nguyễn Thị Kỳ đã phát hiện và bổ sung thêm 6 loài sán dây ký sinh ở gà nước ta, đưa tổng số loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam lên 18 loài.

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12]. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nghiên cứu tu chỉnh phần sán dây trong chương trình động vật chí Việt Nam (1998 - 2003), Nguyễn Thị Kỳ đã bỏ loài Microsomacanthus pavula do không có mẫu chuẩn và tài liệu thiếu chính xác Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7]. 5 Như vậy, cho tới nay, có 17 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam, thuộc 1 bộ, 2 phân bộ, 3 họ và 8 giống. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7], gồm: thµnh phÇn loµi s¸n d©y ký sinh ë gµ gåm: Gièng Loµi Davainea Branchard, Davainea proglostina 1891 (Davaine, 1860) Cotugnia Diamare, Cotugnia digonopora 1893 (Pasquale, 1890) Raillietina Fuhrmann, Raillietina tetragona 1920 (Molin, 1858) R.

cesticillus (Molin, 1858) Dilepidoides Spassky Dilepidoides bauchei et (Joyeux, 1924) Spaskaja, 1954 Echinolepis Spassky Echinolepis carioca et Spaskaja, 1954 (Magalhaes, 1898) MicrosomacanthusLopez Microsomacanthus (Joyeux et – Neyra, 1942 Baer, 1935) Staphylepis Spassky Staphylepis cantaniana et (Polonio, 1960) Oschmarin, 1954 6 Orientolepis Spassky Orientolepis exigua et (Yoshida, 1910) Jurpalova, 1964 AmoebotaniaCohn, 1900 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872) Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], các loài sán dây ký sinh ở gà đã tìm thấy ở Việt Nam là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottina, Raillietina echinobothrida, R. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [11] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm những loài chính là: Raillietina tetragona, R. cesticillus, Cotugnia digonopora, Davainea proglottina. Trong đó, có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R.

Đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8]; Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [11]: Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [9]: Cơ thể sán dây dẹp theo hướng lưng - bụng, thân dài, gồm nhiều đốt riêng biệt, những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt. Nhờ có sự hoá đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội. Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng. Ngoài ra, sự hoá đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác.

Đó là do có những đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự gieo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt 7 đốt thành thục mới. Phần trước cơ thể có đầu (Scolex), có cơ quan bám, giúp sán dây bám chặt vào thành ruột của vật chủ. Ở một số loài sán dây trên giác bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao.

Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài chục đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. Cổ không phân đốt - là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt.

Các đốt ở phía trước là các đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già. Chiều dài của sán dây ký sinh ở gia cầm từ 1,5 mm - 500 mm. Cơ thể màu trắng hoặc màu vàng. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc.

Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục. Không có hệ tiêu hoá. Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây chạy dọc cơ thể.

Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận. Gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng, 2 ống mặt bụng và nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang.

Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính. Mỗi đốt có một, hai cơ quan sinh dục đực và cái. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non, cơ quan sinh dục chưa phát triển; sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại bộ phận sinh dục cái.

Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh. Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm. Mỗi tinh hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung, hoặc thẳng, hoặc cong và cuối cùng 8 mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái).

Phần cuối ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy. Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối). Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước.

Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có ống nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp.

Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng. - Loài Raillietina echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes). Hình thái: Dài 250 mm; rộng 1,2 - 4 mm; trứng: 93 x 74 µ.

Đầu có 4 giác bao gồm từ 8 - 10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc. Lỗ sinh dục đực đơn tính nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán. Có từ 20 - 30 dịch hoàn nằm ở giữa đốt. Tử cung trong các đốt thành thục nằm trong lớp vỏ, chứa các túi trứng, mỗi túi có 6 - 12 trứng.

Vòng đời: Sự phát triển vòng đời phát triển có sự tham gia của vật chủ trung gian là loài kiến Pheidole pallidula, ruồi nhà Musca domestica. Các đốt sán già rụng chứa nhiều trứng theo phân ra ngoài. Đốt vỡ ra, giải phóng trứng, kiến – vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, phát triển thành ấu trùng. Gà ăn kiến có ấu trùng, ấu trùng vào ruột non gà phát triển thành sán trưởng thành.

9 - Loài Raillietina tetragona: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là: Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes). Hình thái: Dài 250 mm; rộng 1 - 4 mm, trứng: 93 x 74 µ. Đầu có 100 móc nằm thành một dãy. Giác có nhiều móc nhỏ.

Các lỗ sinh dục nằm ở tất cả các đốt sán và hơi lệch về trước, cạnh sườn đốt sau. Tử cung trong các đốt trưởng thành nằm trong lớp vỏ có nhiều túi trúng, mỗi túi chứa 6 - 12 trứng, ấu trùng có đường kính 10 - 14 µ. Vòng đời: Vòng đời phát triển của R. tetragona có sự tham gia của vật chủ trung gian là một số loài kiến như: Pheidole pallidula và Tetramorium caespitum.

Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các loài kiến vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn phải kiến có ấu trùng sẽ nhiễm sán. - Loài Raillietina cesticillus: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes). Hình thái: Dài 90 - 130 mm; rộng 1,5 - 3 mm, trứng: 93 x 74 µ.

Cấu tạo của R. cesticillus tương tự như R. tetragona nhưng các lỗ sinh dục không nằm về một phía, mà ở tất cả các đốt và nằm so le. Tử cung ở tất cả các đốt trưởng thành cũng nằm trong lớp vỏ có nhiễm túi trứng nhưng trong mỗi túi chỉ có một trứng.

Vòng đời: Vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là 19 loài bọ hung (Coleoptere) thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus, Ophnus, Tenebrria, Aphodius, Plastysm và Oryctes. Các loài bọ hung ăn phải trứng sán ở môi trường tự nhiên. Trứng sán sẽ phát triển qua các giai đoạn trở thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán.

10 - Loài Davainea proglottina: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là: Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại Yên Thế, Bắc Giang là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán dây ở gà thả vườn, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình hình nhiễm bệnh mà còn đưa ra các giải pháp thiết thực giúp người chăn nuôi giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng suất. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực thú y và chăn nuôi gia cầm.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh truyền nhiễm và biện pháp phòng chống, bạn có thể tham khảo thêm nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và đặc tính của vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại Bắc Giang, hoặc tìm hiểu về tỷ lệ nhiễm và yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh leptospira tại Long An. Ngoài ra, đánh giá tình hình cảm nhiễm và đáp ứng miễn dịch dịch thể kháng virus dại ở chó nuôi tại Quảng Bình cũng là một tài liệu đáng chú ý để hiểu rõ hơn về các bệnh truyền nhiễm trong chăn nuôi.