Luận án về việc sử dụng vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho bò sữa tại Sơn La

Chuyên khảo phân tích Luận án sử dụng vỏ quả chanh leo passiflora edulis làm thức ăn cho bò sữa tại sơn la, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2021

128
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu chung

1.2. Mục tiêu cụ thể

2. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

3.1. Ý nghĩa khoa học

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

5.1. SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI

5.1.1. Khả năng sử dụng phụ phẩm của gia súc nhai lại

5.1.1.1. Đặc điểm tiêu hoá của gia súc nhai lại

5.2. Nguồn phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở Việt Nam

5.3. Lợi ích và hạn chế của việc sử dụng phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại

5.3.1. Lợi ích của việc sử dụng phụ phẩm làm thức ăn cho gia súc nhai lại

5.3.2. Những hạn chế đối với việc sử dụng phụ phẩm cây trồng

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Tỉnh Sơn La, với diện tích 1,4 triệu ha và dân số 1.252,7 nghìn người, có tiềm năng phát triển chăn nuôi bò sữa. Sự gia tăng đàn bò sữa tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu lên đến 21.000 con vào năm 2020 cho thấy nhu cầu về thức ăn cho bò sữa ngày càng cao. Tuy nhiên, nguồn thức ăn thô tại Sơn La đang thiếu hụt, đặc biệt vào mùa đông. Việc sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò sữa là một giải pháp khả thi, giúp tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La, diện tích trồng chanh leo năm 2020 đạt 1.900 ha, với sản lượng vỏ quả lên đến 38.000 tấn mỗi năm. Việc chế biến vỏ chanh leo thành thức ăn cho bò sữa không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra nguồn thức ăn giá rẻ cho gia súc.

1.1. Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Sơn La

Chăn nuôi bò sữa tại Sơn La đang phát triển mạnh mẽ, với số lượng đàn bò không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, việc cung cấp thức ăn cho bò sữa vẫn là một thách thức lớn. Nguồn thức ăn thô hiện tại không đủ để đáp ứng nhu cầu, đặc biệt vào mùa đông. Việc sử dụng vỏ chanh leo có thể giải quyết vấn đề này, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường do phụ phẩm từ chế biến chanh leo gây ra. Nghiên cứu cho thấy vỏ chanh leo có thể là nguồn thức ăn tốt cho bò, giúp cải thiện dinh dưỡng và sức khỏe cho gia súc.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò sữa, nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững tại Sơn La. Cụ thể, nghiên cứu sẽ xác định khối lượng, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của vỏ chanh leo. Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ tìm ra các công thức ủ chua để bảo quản vỏ chanh leo và xác định mức độ sử dụng phù hợp trong khẩu phần ăn của bê cái và bò vắt sữa. Việc này không chỉ giúp tạo ra nguồn thức ăn tại chỗ mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.1. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu sẽ xác định khối lượng và thành phần dinh dưỡng của vỏ chanh leo, từ đó đưa ra các công thức ủ chua phù hợp. Việc xác định tỷ lệ sử dụng vỏ chanh leo trong khẩu phần ăn của bê cái và bò vắt sữa cũng là một phần quan trọng của nghiên cứu. Điều này sẽ giúp tối ưu hóa dinh dưỡng cho bò sữa, đồng thời tạo ra một nguồn thức ăn giá rẻ và bền vững cho ngành chăn nuôi tại Sơn La.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học lớn, khi lần đầu tiên đánh giá tiềm năng và giá trị dinh dưỡng của vỏ chanh leo trong chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam. Các công thức ủ chua và tỷ lệ sử dụng vỏ chanh leo sẽ được xác định, tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Về mặt thực tiễn, việc sử dụng vỏ chanh leo sẽ giúp giảm chi phí thức ăn cho người chăn nuôi, đồng thời tạo ra nguồn thức ăn giá rẻ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Hơn nữa, việc này cũng giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp.

3.1. Lợi ích kinh tế

Việc sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò sữa không chỉ giúp giảm chi phí cho người chăn nuôi mà còn tạo ra nguồn thức ăn bền vững. Điều này có thể nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập cho người dân. Hơn nữa, việc tận dụng nguồn phụ phẩm này sẽ giúp bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm từ việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp không hiệu quả.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích rộng (1,4 triệu ha) và mật độ dân số thấp; toàn tỉnh có 1.252,7 nghìn người với mật độ 89 người/km2 (Tổng Cục thống kê, 2020). Sơn La được coi là một tỉnh có tiềm năng phát triển gia súc ăn cỏ. Thực tế, hàng năm số lượng đàn trâu bò của tỉnh không ngừng tăng lên. Tính đến năm 2020, tỉnh Sơn La có 25.

Chỉ tính riêng tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, đàn bò sữa hiện có trên 21.000 và tăng đàn lên 3. Để đáp ứng sự phát triển đàn gia súc nhai lại (GSNL) thì việc giải quyết đủ nguồn thức ăn thô ổn định quanh năm là một vấn đề sống còn. Tuy nhiên, hiện tại nguồn thức ăn thô tại Sơn La đang bị thiếu hụt, đặc biệt vào mùa đông, trong bối cảnh diện tích đất trồng cỏ đang bị thu hẹp dần do nhu cầu sử dụng đất vào các mục tiêu khác có lợi hơn. Do vậy, giải pháp tận dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có làm thức ăn chăn nuôi đang được lãnh đạo tỉnh Sơn La và các nhà khoa học quan tâm.

Ở nhiều nước đang phát triển có điều kiện tương tự như nước ta (đất đai hạn chế, dân số tăng nhanh), người ta hết sức quan tâm đến vấn đề nghiên cứu sử dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương và phụ phẩm để tăng nguồn thức ăn giá rẻ cho gia súc nhai lại. Một trong những nguồn phụ phẩm đang còn ít được quan tâm nghiên cứu là vỏ quả chanh leo. Sau khi khai thác dịch quả chế biến đồ uống phần vỏ còn lại có lượng lớn đang thải ra môi trường mà chưa được sử dụng. Cây chanh leo (Passiflora edulis) gần đây được trồng ở nhiều nơi ở Việt Nam, trong đó có tỉnh Sơn La, với tốc độ phát triển rất nhanh nhờ có thị trường xuất khẩu tốt.

Tuy nhiên, việc chế biến quả chanh leo xuất khẩu đã để lại lượng phụ phẩm lớn và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất cao. Tại Sơn La, sự phát triển và mở rộng quy mô trồng chanh leo của tập đoàn Nafood Tây Bắc đã tạo ra một nguồn phụ phẩm vỏ quả ngày càng lớn. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La (2021), diện tích trồng chanh leo năm 2020 của tỉnh là 1.900 ha 1 với năng suất quả đạt 30-50 tấn/ha với gần 1/2 là cùi vỏ. Như vậy, hàng năm tại Sơn La sẽ có khoảng 38.000 tấn vỏ quả chanh leo.

Một số nghiên cứu đã cho thấy vỏ quả chanh leo có thể làm thức ăn tốt cho bò. Alves và cs. (2015) đã ủ chua vỏ quả chanh leo, bột ngô, urê và khô đậu nành thay thế khẩu phần lúa mỳ cho vỗ béo bò thịt tại Brazil. Sena và cs.

(2015) đã sử dụng vỏ quả chanh leo phơi khô thay thế cỏ Tifton 85 trong khẩu phần ăn của cừu nuôi thịt. Ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào chế biến sử dụng vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho gia súc. Do vậy, nếu chế biến được nguồn phụ phẩm này làm thức ăn chăn nuôi ở Sơn La thì đó sẽ là cho lợi ích kép: vừa tạo được một nguồn thức ăn tại chỗ cho gia súc nhai lại vừa giảm thiểu được ô nhiêm môi trường do chế biến quả chanh leo gây ra. Vỏ quả chanh leo có hàm lượng xơ và nước cao trong khi đó hàm lượng protein thấp (He và cs.

Nếu sử dụng nguồn phụ phẩm này với một tỷ lệ không hợp lý trong khẩu phần gia súc nhai lại sẽ ảnh hưởng không tốt đến môi trường dạ cỏ, do đó giảm hiệu quả sử dụng thức ăn nói chung và tiêu hoá xơ nói riêng. Để gia súc sử dụng có hiệu quả vỏ quả chanh leo tươi cần có biện pháp chế biến, xử lý và bảo quản chúng một cách thích hợp. Do đó, việc nghiên cứu chế biến và bảo quản những phụ phẩm này sẽ tạo ra nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi, đồng thời tránh ô nhiễm môi trường, tạo sự phát triển bền vững trong ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, việc thu gom, chế biến và sử dụng như thế nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương đòi hỏi phải có các nghiên cứu và thí nghiệm cụ thể trước khi có thể áp dụng rộng rãi trên quy mô lớn.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu chung Sử dụng vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho bò sữa nhằm góp phần phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững ở Sơn La. Mục tiêu cụ thể - Xác định được khối lượng, thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho bò sữa. 2 - Xác định được các công thức ủ chua để bảo quản vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho gia súc nhai lại.

- Xác định mức độ sử dụng vỏ quả chanh leo ủ chua phù hợp trong khẩu phần ăn của bê cái và bò vắt sữa. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Luận án là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam đánh giá được tiềm năng, thành phần và giá trị dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo làm thức ăn cho bò sữa. - Đã đưa ra công thức ủ chua vỏ quả chanh leo làm thức ăn chăn nuôi. - Đã xây dựng được các khẩu phần ăn cho bê cái và bò vắt sữa có chứa tỷ lệ vỏ quả chanh leo ủ chua phù hợp.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 4. Ý nghĩa khoa học - Đưa ra được phương trình ước tính trữ lượng vỏ quả chanh leo. - Tư liệu hoá được giá trị dinh dưỡng của vỏ quả chanh leo. - Tìm ra được các công thức ủ chua vỏ quả chanh leo phối hợp với các nguồn phụ phẩm khác.

- Xác định được tỷ lệ sử dụng vỏ quả chanh leo để thay thế một số loại thức ăn thô thông dụng trong khẩu phần nuôi bò sữa. - Luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng cũng như cho cơ sở chăn nuôi bò sữa. Ý nghĩa thực tiễn - Sử dụng được vỏ quả chanh leo tại Sơn La làm thức ăn cho bò sữa giúp tạo thêm nguồn thức ăn giá rẻ, góp phần hạ giá thành sản phẩm và tăng thu nhập cho người chăn nuôi bò sữa. - Giảm chi phí xử lý môi trường và giảm thiểu ô nhiễm môi trường do vỏ quả chanh leo gây ra cho doanh nghiệp chế biến quả chanh leo.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: vỏ quả chanh leo phối hợp với một số phụ phẩm nông nghiệp và chế biến có sẵn khác làm thức ăn cho bò sữa nuôi tại Mộc Châu. 3 - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2017 đến 9/2021. - Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm của Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi – Viện Chăn nuôi; các hộ chăn nuôi bò sữa tại huyện Mộc Châu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI 1. Khả năng sử dụng phụ phẩm của gia súc nhai lại 1. Đặc điểm tiêu hoá của gia súc nhai lại Hệ thống tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi: ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng; túi thứ 4 là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển (Nguyễn Xuân Trạch và cs. Dạ cỏ của gia súc nhai lại được xem là xã hội cộng sinh giữa gia súc và vi sinh vật (VSV), nhờ vậy mà chúng có khả năng sống và phát triển dựa vào khẩu phần thức ăn giàu xơ (Brockman, 1993).

Do vậy, các loại thức ăn giàu xơ khác mà con người và động vật dạ dày đơn không thể sử dụng vẫn có thể được xem là nguồn thức ăn có giá trị cho gia súc nhai lại nhờ vi sinh vật dạ cỏ này. Quá trình lên men VSV trong dạ cỏ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng, protein, có ảnh hưởng tới lượng thức ăn ăn vào và sức sản xuất của gia súc nhai lại. Quá trình trao đổi chất trong dạ cỏ bao gồm hai quá trình chính (Nguyễn Xuân Trạch và cs. - Sự phân huỷ các thành phần thức ăn bởi VSV (chủ yếu là carbohydrate và các hợp chất chứa nitơ).

- Quá trình tổng hợp các đại phân tử cho sinh khối VSV (chủ yếu là protein, axít nucleic và lipid). Cả hai quá trình trên đều chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc khẩu phần, tốc độ chuyển dời các tiểu phần thức ăn ở các túi dạ dày trước. Dạ cỏ của gia súc nhai lại có dung tích lớn và môi trường thuận lợi cho VSV yếm khí sống và phát triển. VSV dạ cỏ có các enzyme phân huỷ liên kết -1,4- glucoside của chất xơ và có khả năng tổng hợp đại phân tử protein từ NH3.

Chất chứa dạ cỏ là một hỗn hợp gồm thức ăn ăn vào, vi sinh vật dạ cỏ, các sản 5 phẩm trao đổi trung gian, nước bọt và các chất chế tiết từ máu vào dạ cỏ. Đây là một hệ sinh thái phức hợp trong đó liên tục có sự tương tác giữa thức ăn, hệ vi sinh vật và động vật chủ. Môi trường dạ cỏ là môi trường yếm khí và có áp suất thẩm thấu tương đương áp suất thẩm thấu của máu. Nhiệt độ trong dạ cỏ khoảng 38 - 420C.

Độ pH có sự biến động song được duy trì khá ổn định do sự hấp thu axit béo bay hơi và NH3, cùng với tác dụng đệm của nước bọt (Nguyễn Xuân Trạch và cs. Các chất chứa luôn luôn được nhào trộn bởi sự co bóp của dạ cỏ, nhờ vậy dinh dưỡng được lưu thông liên tục. Sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men được hấp thu qua vách dạ cỏ và các cơ chất được nạp vào thông qua thức ăn. Có sự chế tiết vào qua vách dạ cỏ những chất cần thiết cho vi sinh vật phát triển và hấp thu vào máu những sản phẩm tạo ra trong dạ cỏ.

Điều này làm cho áp suất thẩm thấu của dạ cỏ luôn ổn định. Thời gian thức ăn tồn lưu trong dạ cỏ kéo dài tạo điều kiện cho vi sinh vật công phá. Những điều kiện đó là lý tưởng cho sự phát triển của VSV dạ cỏ. Điều này được đánh giá bởi sự phong phú về chủng loại và mật độ VSV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sử dụng vỏ chanh leo làm thức ăn cho bò sữa tại Sơn La" trình bày một phương pháp mới nhằm cải thiện chế độ dinh dưỡng cho bò sữa bằng cách tận dụng vỏ chanh leo, một nguồn nguyên liệu phong phú và dễ kiếm. Việc sử dụng vỏ chanh leo không chỉ giúp giảm chi phí thức ăn mà còn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của bò sữa. Tài liệu này sẽ mang lại cho người đọc cái nhìn sâu sắc về lợi ích của việc sử dụng nguyên liệu tự nhiên trong chăn nuôi, đồng thời khuyến khích các nông dân áp dụng các phương pháp bền vững hơn trong sản xuất nông nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến chăn nuôi và quản lý thức ăn cho gia súc, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại chăn nuôi gà thành lê xã phấn mễ huyện phú lương tỉnh thái nguyên, nơi bạn có thể tìm hiểu về các mô hình chăn nuôi hiệu quả. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn tốt nghiệp thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà tại trung tâm đào tạo nghiên cứu giống cây trồng và vật nuôi trường đại học nông lâm thái nguyên sẽ cung cấp thêm thông tin về quy trình chăm sóc gia cầm. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận văn tốt nghiệp thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn bùi thanh tiến xã cao minh thành phố phúc yên tỉnh vĩnh phúc để mở rộng kiến thức về chăm sóc và quản lý lợn nái. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp chăn nuôi hiện đại và bền vững.