Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Cho đến nay hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [11]).
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 4 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo.
Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [15] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam. Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. Sau này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, (1970); Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, (1976) cho rằng, loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni.
Tuy nhiên sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài. Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà, cầy, chó (Hà Nội) có loài Diphyllobothrium reptans. Theo Yamaguti, loài này thuộc giống Spirometra. Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S.
(1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một kết luận không chính xác và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum. Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi đây là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị Kỳ 2003, [11]). Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã mô tả hoàn chỉnh loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]). Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung Phan Thế Việt và cs (1977) [40], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [11] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau).
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có loài sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng.
Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc, ít khi vòi thiếu móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài sán.
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực. Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá.
Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa tử cung với vô số trứng sán dây. Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá. Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea). 7 Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét.
Cơ thể sán dây được bao phủ bởi lớp tiểu bì, sau đó đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán. Sán dây chó cũng giống các loài sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể.
Hệ thần kinh của sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm phần trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang. Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí.
Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái.
Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung. Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài.
Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong.
Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau. 8 Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng).
Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng.
Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng. Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung. Cấu tạo tử cung của sán dây rất khác nhau.
Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống cong, dẫn từ ootyp đến lỗ ngoài (nằm ở mặt bụng của mỗi đốt). Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng. Ở sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài. Ở những sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng.
Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt. Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ. Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ, trong có phôi 6 móc. Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12].