Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ký sinh trùng học thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2012

162
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại Thái Nguyên

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm sán dây cao, đặc biệt ở các vùng núi và trung du. Bệnh sán dây phổ biến do điều kiện thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, tạo môi trường thuận lợi cho ký chủ trung gian như kiến phát triển. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà thả vườn dao động từ 50-70%, với cường độ nhiễm cao ở gà từ 2-6 tháng tuổi. Dịch tễ học của bệnh cũng chỉ ra sự liên quan mật thiết giữa mùa vụ và tỷ lệ nhiễm, với đỉnh điểm vào mùa mưa.

1.1. Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn

Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại Thái Nguyên được đánh giá qua xét nghiệm phân và mổ khám. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm cao nhất ở các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương và Phú Bình. Gà thả vườn có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với gà nuôi nhốt do tiếp xúc nhiều với môi trường bên ngoài. Các loài sán dây phổ biến bao gồm Raillietina cesticillus và Cotugnia digonopora.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ bệnh

Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ bệnh sán dây bao gồm điều kiện thời tiết, môi trường chăn nuôi và tuổi gà. Thái Nguyên với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của ký chủ trung gian. Gà từ 2-6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện.

II. Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý của bệnh sán dây ở gà

Bệnh sán dây ở gà thả vườn gây ra các triệu chứng lâm sàng như gầy yếu, thiếu máu, niêm mạc vàng nhợt, mào và dái tai xanh tái. Lâm sàng của bệnh còn bao gồm các biểu hiện như tiêu chảy, phân có lẫn máu, gà thở khó và ủ rũ. Bệnh tích đại thể cho thấy sán dây ký sinh dày đặc trong ruột non, gây tổn thương niêm mạc ruột và xuất huyết.

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của gà nhiễm sán dây bao gồm gầy yếu, thiếu máu, niêm mạc vàng nhợt, mào và dái tai xanh tái. Gà thở khó, thường vươn cao cổ để thở. Bệnh sán dây còn gây tiêu chảy, phân có lẫn máu, gà ủ rũ và giảm sức đề kháng.

2.2. Bệnh tích đại thể và vi thể

Bệnh tích đại thể cho thấy sán dây ký sinh dày đặc trong ruột non, gây tổn thương niêm mạc ruột và xuất huyết. Bệnh tích vi thể cho thấy các tổn thương viêm ruột thứ phát và xuất huyết, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của gà.

III. Biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn

Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh sán dây hiệu quả cho gà thả vườn tại Thái Nguyên. Biện pháp phòng trị bao gồm sử dụng thuốc tẩy sán như Praziquantel và Niclosamide, kết hợp với các biện pháp vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi. Quy trình phòng trị tổng hợp đã được thử nghiệm và cho kết quả khả quan, giảm tỷ lệ nhiễm sán dây từ 70% xuống còn 20% sau 3 tháng áp dụng.

3.1. Sử dụng thuốc tẩy sán

Các loại thuốc tẩy sán như Praziquantel và Niclosamide đã được thử nghiệm và cho hiệu quả cao trong điều trị bệnh sán dây. Thuốc tẩy sán được sử dụng theo liều lượng khuyến cáo, giúp giảm tỷ lệ nhiễm sán dây và cải thiện sức khỏe của gà.

3.2. Biện pháp phòng bệnh

Các biện pháp phòng bệnh bao gồm vệ sinh chuồng trại, sử dụng thuốc diệt kiến và sát trùng môi trường chăn nuôi. Phòng bệnh cho gà cũng bao gồm việc quản lý chặt chẽ nguồn thức ăn và nước uống, hạn chế tiếp xúc với ký chủ trung gian.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SÁN DÂY KÝ SINH Ở GÀ 1. Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật Sán dây ký sinh ở gà đều thuộc lớp sán dây - Cestoda Rudolphi, 1808. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [38], trong giới động vật, lớp sán dây thuộc ngành giun dẹt - Plathelminthes Schnerder, 1873.

Ngành Plathelminthes có 8 lớp: + Lớp Tuberia Ehrenberg, 1873 + Lớp Temnocephala Ivanov, 1952 + Lớp Udonellida Ivanov, 1952 + Lớp Mesozoa Van Beneden, 1876 + Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 + Lớp Mononenea (Beneden) Bychowsky, 1937 + Lớp Gyrocotylida Bychowsky, 1937. + Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Sán dây là 1 trong 4 lớp (Mononenea, Trematoda, Cestoda, Mesozoa) của ngành này, chỉ có các đại diện có đời sống ký sinh, không có các đại diện sống tự do. Chúng ký sinh ở tất cả các lớp của động vật có xương sống: chim, thú, bò sát, ếch nhái. Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được trên ba ngàn loài sán dây, ở Việt Nam đã phát hiện được 148 loài sán dây ký sinh ở người và động vật (Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10].

Lớp sán dây gồm hai bộ: bộ Pseudophylidea Carus, 1863 và bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900. Các loài sán dây ký sinh ở gà đều ở trong bộ Cyclophyllidea. Theo Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10], các loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) thuộc các phân bộ, họ, giống sau: Lớp Cestotoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1863 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940 n -5- Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907 Giống Cotugnia Diaare, 1893 Giống Davainea Blanchard, 1891 Giống Raillietina Fuhrmann, 1920 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Hymenolepididae (Ariola, 1899) Railliet et Henry, 1909 Giống Dilepidoides Spassky et Spasskaja, 1954 Giống Echinolepis Spassky et Spasskaja, 1954 Giống Orientolepis Spassky et Jurpalova, 1964 Giống Staphylepis Spassky et Oschmarin, 1954 Họ Dilepididae Fuhrmann, 1907 Giống Amoebotaenia (Cohn, 1899). Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam Năm 1977, Nguyễn Thị Kỳ (chuyên gia lớn nhất nghiên cứu về sán dây ở Việt Nam) đưa ra danh sách 12 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam (Phan Thế Việt và cs (1977) [38].

Đến năm 1996, Nguyễn Thị Kỳ đã phát hiện và bổ sung thêm 6 loài sán dây ký sinh ở gà nước ta, đưa tổng số loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam lên 18 loài (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [16]. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nghiên cứu tu chỉnh phần sán dây trong chương trình động vật chí Việt Nam (1998 - 2003), Nguyễn Thị Kỳ đã bỏ loài Microsomacanthus pavula do không có mẫu chuẩn và tài liệu thiếu chính xác (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [10]. Như vậy, cho tới nay, có 17 loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam, thuộc 1 bộ, 2 phân bộ, 3 họ và 8 giống (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [10], gồm: TT Tên giống, loài sán dây Nơi đã phát hiện Davainea Branchard, 1891 1 Davainea proglottina (Davaine, 1860) Các tỉnh phía Bắc Cotugnia Diamare, 1893 2 Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890) Toàn quốc Raillietina Fuhrmann, 1920 3 R.) georgiensis Reid et Nugara, 1961 Hải Phòng (1960) n -6- 5 R.) penetrans nova Johri, 1934 Hải Phòng (1960) 7 R.) peradenica Sawada, 1957 Hải Phòng (1960) 8 R.) macassariensis (Yamaguti, 1956) Hà Nội; Tây Nguyên 11 R.) tinguiana Tubangui et Toàn quốc Masilungan, 1937 12 R.) cesticillus (Molin, 1858) Toàn quốc Dilepidoides Spassky et Spaskaja, 1954 13 Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924) Các tỉnh phía Bắc; Huế (1924) Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954 14 Echinolepis carioca (Magalhaes, 1898) Toàn quốc Orientolepis Spassky et Jurpalova, 1964 15 Orientolepis exigua (Yoshida, 1910) Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên Staphylepis Spassky et Oschmarin, 1954 16 Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960) Các tỉnh phía Bắc Amoebotania Cohn, 1900 17 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872) Toàn quốc Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11]; Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [15] cho biết: sán dây thường gặp ở gà gồm những loài chính là: R. cesticillus, Cotugnia digonopora, Davainea proglottina.

Trong đó, có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R. Đặc điểm hình thái, cấu tạo một số loài sán dây ký sinh ở gà 1. Đặc điểm chung Cơ thể sán dây dẹp theo hướng lưng - bụng, thân dài, gồm nhiều đốt riêng biệt. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12]: những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt.

Nhờ có sự hoá đốt mà khả năng n -7- sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội. Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng. Ngoài ra, sự hoá đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác. Đó là do có những đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự gieo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới.

Phần trước cơ thể có đầu (Scolex), có cơ quan bám, giúp sán dây bám chặt vào thành ruột của vật chủ. Ở một số loài sán dây trên giác bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng.

Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài chục đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. Cổ không phân đốt - là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt. Các đốt ở phía trước là các đốt non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già.

Chiều dài của sán dây ký sinh ở gia cầm từ 1,5 mm - 500 mm. Cơ thể màu trắng hoặc màu vàng. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô.

Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục. Không có hệ tiêu hoá. Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang.

Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận. Gồm 4 ống chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng, 2 ống mặt bụng và nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng cầu nối ngang. Hầu hết các loài sán dây có hệ sinh dục lưỡng tính.

Mỗi đốt có một, hai cơ quan sinh dục đực và cái. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non, cơ quan sinh dục chưa phát triển; sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ sinh dục đực teo dần còn lại bộ phận sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung.

n -8- Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh. Số lượng tinh hoàn có thể rất khác nhau từ một đến vài trăm. Mỗi tinh hoàn có ống dẫn đổ vào ống dẫn tinh chung, hoặc thẳng, hoặc cong và cuối cùng mở ra ở huyệt sinh dục (bên cạnh lỗ sinh dục cái). Phần cuối ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc vảy.

Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối). Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng).

Từ buồng trứng có ống nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng.

Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng. Về đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở gà - Các loài thuộc giống Raillietina Fuhrmann, 1920: Chuỗi đốt có nhiều đốt. Vòi có hai hàng móc dạng búa. Bờ của giác bám có vài hàng gai nhỏ.

Tinh hoàn thường nhiều, nang lông gai nhỏ, thường không đạt tới ống bài tiết bên, rất ít khi cắt ngang ống bài tiết. Lỗ sinh dục ở một phía hoặc xen kẽ không đều. Buồng trứng hai thuỳ ở giữa đốt hoặc phần có lỗ. Noãn hoàng hình khối, nằm dưới buồng trứng, có túi tinh.

Mỗi nang trứng chứa từ một đến vài trứng. Sán trưởng thành ký sinh ở thú và chim, ấu trùng ký sinh ở côn trùng (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008) [26]. Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [15], Senlik B. (2011) [109] đã mô tả như sau: + Loài R.

echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes). Dài 250 mm, rộng 1,2 - 4 mm, trứng: 93 × 74 µm. Đường kính đầu 0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm. n -9- Đầu có 4 giác bám bao gồm từ 8 - 10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc, dài 0,010 - 0,012 mm.

Giác bám tròn có đường kính 0,113 - 0,159 mm. Bờ giác có nhiều gai nhỏ, có hình dạng và kích thước khác nhau. Ở hàng trong cùng gai dài 0,006 mm, hàng gai ngoài cùng dài 0,016 mm. Chiều dài của nang lông gai 0,190 - 0,250 mm, đường kính tối đa 0,075 - 0,100 mm.

Lông gai có gai nhỏ. Lỗ sinh dục đực đơn tính, nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán. Có từ 28 - 38 tinh hoàn nằm ở giữa đốt. Buồng trứng nhiều thuỳ, noãn hoàng phân thuỳ.

Trong những đốt già tử cung phân thành 100 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 1 - 12 trứng. Cấu trúc, hình thái của sán dây R. echinobothrida ký sinh phổ biến ở gà thả vườn cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Samad M. và cs, 1986 [143], Radha T.

và cs, 2006 [132], Lalchhandama K.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán dây ở gà thả vườn tại Thái Nguyên là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả đối với bệnh sán dây ở gà thả vườn tại khu vực Thái Nguyên. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình hình bệnh mà còn đưa ra các giải pháp thiết thực giúp người chăn nuôi quản lý và phòng ngừa bệnh hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng đàn gà.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh dịch tễ ở gia cầm, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà vịt đối với vaccine H5N1 tại tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu này cung cấp thêm góc nhìn về bệnh cúm gia cầm và hiệu quả của vaccine. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh lý lâm sàng bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu bò tại Lạng Sơn và biện pháp phòng trị cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vai trò của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con dưới 2 tháng tuổi tại Quảng Ninh và biện pháp phòng trị sẽ mang đến thông tin về các bệnh do vi khuẩn gây ra và cách phòng ngừa hiệu quả.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh dịch tễ và biện pháp phòng trị trong chăn nuôi.