Chương I TONG QUAN 1 Nghiên cứu về Mô hình bệnh tật 1. Một số phương pháp nghiên cứu mỏ hình bệnh tật 1. Nghiên cứu mô bình bệnh tật tại công đồng Các kỳ thuật thu thập thông tia được áp dụng là phỏng vấn (phỏng vấn nhóm, phòng vấn cá nhân), quan sất trực. „ khẩm lâm sàng, xét nghiệm môi trường, sử dụng số liệu có sẵn.1, Thu thập thông tìn bằng phỏng vấn Phương pháp phòng vấn được áp dụng khá rộng rãi.
Người ta thường sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn toàn bộ các thành viên trong gia đình hoặc một người đại điện gia đình vẻ tình hình bệnh tật của gia đình đó [50]. Ưu điểm của phương pháp này là trong một thời gian ngắn có thể đưa ra được các thông số cần thiết mà nghiên cứu đồi hỏi, so sánh được với các nghiên cứu ở các vùng địa lý khác nhau trong cùng một thời điểm, từ đó đưa ra được các kết luận vẻ mô hình bệnh tật của cộng đồng tại thời điểm nghiên cứu. Đó là những căn cứ quan trọng của việc để ra các giải pháp thích hợp, đặc bi trong phòng bệnh. Kết quả nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào việ xây dựng phiếu điều tra theo mục đích của nghiên cứu, độ nhạy, độ đặc hiệu của bộ câu hỏi, cách khai thác thông tin của điều tra viên (ĐTV), trình độ của ĐTV, thời gian tiếp xúc của ĐTV.
với người tham gia nghiên cứu và đặc biệt là trình độ nhận thức, văn hoá, kinh tế, xã hội của đối tượng điều tra. Những người khá giả, có trình độ học vấn cao thường nhạy cảm hơa và báo cáo kịp thời tình hình mắc bệnh của mình [13]. Thời gian phỏng vấn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Quá trình.
điều tra thường khai thác thông tia vẻ bệnh tật của đối tượng trong vồng hai tuần. tính từ thời điểm điều tra trở về trước. Nếu thời gian điều tra càng đài, tần xuất phát hiện các bệnh mạn tính càng tăng, các bệnh cấp tính càng giảm. Thời điểm phỏng vấn cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật, vì nhiều bệnh liên quan.
đến mùa, thời tiết, khí hậu. Kết quả phỏng vấn trực tiếp từng người trong hộ gia đình tốt hơn là phỏng vấn. gián tiếp một người đại diện cho cả gia đình. Với trẻ em, thông tin từ phỏng vấn bà mẹ thường chính xác hơn những người khác trong gia đình.
Thu thập thông tin bằng khám lâm sàng ĐTV tiến hành khám lâm sàng toàn diện hoặc khám sàng lọc (tuỳ thuộc yêu cầu aghiên cứu và kinh phí thực biện), để phát hiện những bệnh hiện mắc. Phương pháp này tương đối đất và tốn công. Kết quả phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của các DTV do không có các xét nghiệm cận lâm sàng hố trợ. Kết quả điều tra bằng khám.
lâm sàng thường cho tỷ lệ mắc cao hơn phỏng vấn. Một nghiên cứu ở Ghana năm 1976 trên 3653 người cho thấy có sự khác biệt giữa khẩm lâm sàng và phỏng vấn [38]: Bảng 1. Sự chênh lệch giữa kết quả phông vấn và khám lâm sảng Triệu chứng/bệnh Ket qua - Két qua - Phông vấn (2) - | Mức chênh Phéng van (1) Kham lâm sàng (ye) Tiêu chảy: 0,9 32 027 Bệnh da 0,1 37 0,04 Suy dinh dưỡng 0,8 32,1 0,03 Cao huyết áp 0,0 06 <0,01 Sốt 5,2 13,9 0,37 'VPHH trên. 3,5 35,1 0,1 Kết quả trong bảng trên cho thấy điều tra bằng phỏng vấn thường cho tỷ lệ thấp hơn khẩm lâm sàng.
Sự chênh lệch này thể hiện khoảng cách giữa nhu cầu khám. Đối với người nghèo khoảng cách. này sẽ càng lớn. Một số nghiên cứu tiến hành cả hai phương pháp trên để được kết quả chính xác hơn.
Yếu tố chủ quan trong nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng tất lớn. Day là một lý do làm cho mô hình bệnh tật tại cộng đông thường khác biệt so với mô hình bệnh tật tại bệnh viện. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự về thực trạng sức khoẻ và mô hình. bệnh tật của trẻ em Việt Nam chỉ ra rằng khi điều tra ở cộng đỏng tỷ lệ mắc các bệnh khối u là hầu như không có, nhưng thực tế ở các bệnh viện tỷ lệ bệnh nhỉ mắc các bệnh khối u là 2,87% với các bệnh viện tỉnh, và 5,31% với viện Nhỉ [50].
Cũng tương tự như thế, bệnh viêm phổi tại cộng đỏng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nhưng tại bệnh viện tỷ lệ mắc viêm phổi trong các bệnh hô hấp chiếm 78,3% và so với tỷ lệ mắc bệnh toàn viện là 18,03%, tỷ lệ từ vong do viêm phổi trong nhiều năm. gần đây như không thay đổi (23,1%) [90] của tổng số tử vong trẻ em tại bệnh viện. Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật còn tương đối cao và phong phú tại các bệnh nhưng trên nghiên cứu tại cộng đồng tỷ lệ này rất thấp chủ yếu là mắt hột, giun, sán. Một đặc điểm nữa là các bệnh nặng, cấp tính ở cộng đồng chiếm tỷ lệ thấp hơn.
hẳn trong bệnh viện. Nguyên nhân chính là do bệnh nhân mắc những bệnh này phải điều trị tại bệnh viện, không thể tự chữa ở nhà, làm mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi. Dựa trên các số liệu sẵn có Có thé thu thập thông tin dựa trên sé lưu của trạm Y tế xã, cộng tác viên Y tế. Những số liệu này thường không đẩy đủ và thiếu chính xác trong hoàn cảnh các nước đang phát triển vì chưa có hệ thống ghi chép và lưu trữ chuẩn xác.
Nghiên cứu mô hình bênh tát trong bệnh viên Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hỏ sơ lưu trữ tại các bệnh viện theo bệnh án mẫu thống nhất toàn ngành y tế. Có nhiều loại bệnh án khác nhau cho từng chuyên khoa nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất ở những thông tỉa chính, thuận lợi cho nghiên cứu. Việc xây dựng mô hình bệnh tật dựa vào chẩn đoán ra viện hoặc tử vong, theo những tiêu chuẩn chấn đoán, sự hỗ trợ của xết nghiệm. Chẩn đoán này phụ thuộc trình độ chuyên môn của nhân viên y tế và trang thie hục vụ chẩn đoán của từng cơ sở y tế.
D6 tin cậy của chẩn đoáu trong bệnh viện cao hơn hẳn ngoài cộng đồng do được các Giáo sư, Bác sỹ chuyên khoa có kinh nghiệm xác định, với sự hỗ trợ đắc lực của các xét nghiệm cận lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán khác. Việc theo dõi người bệnh liên tục giúp củng cố chẩn đoán, phát hiện ra các bệnh kèm theo và đánh giá được hiệu quả điều trị. Các kết quả thống kê thường là hồi cứu, phụ thuộc bệnh sử của bệnh nhân khi ra viện, phụ thuộc người làm công tác thống kê, sắp xếp mã số, do đó có thể có một số khác biệt vẻ chất lượng giữa các bệnh án và phân loại bệnh tật, giữa các bệnh viện Trung ương và địa phương. Do điều kiện han hep vé co sé vat chất, các bệnh viện chỉ có thể tiếp nhận một số lượng bệnh nhân giới hạn, nhiều bệnh chỉ điều trị ngoại trú nên mô hình bệnh tật tại bệnh viện không phản ánh hết thực chất tình hình sức khoẻ của nhân dân.
Nhiều bệnh tại cộng đồng tỷ lệ mắc còn tương đối cao nhưng ở bệnh viện thường chiếm tỷ lệ thấp như các bệnh vẻ răng miệng, viêm đường hô hấp trên, ghế lở. Một bệnh nhân mắc bệnh mạn tính có thể được điều trị nhiều đợt trong năm làm. con số thống kê cũng bị ảnh hưởng như các bệnh máu, ung thư. Điều nầy là sự khác biệt giữa mô hình bệnh tật và cấu trúc bệnh ti Nhiều bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa, do điều kiện tiếp xúc với các dịch vụ y tế cồn nhiều khó khăn, một lượng không nhỏ bệnh nhân quá nghèo không đủ điều kiện để nằm viện, tự chữa ở nhà nên làm cho mô hình bệnh tật ở một số vùng miền thay đổi mà không phản ánh được thực chất mô hình bệnh tật chung của toàn quốc.
Do sự phát triển của xã hội và thay đổi cơ cấu quản lý ngày càng có nhiều bệnh. viện tư, phồng khám tư, nhiều được sĩ, dược tá tham gia điều trị tại quầy thuốc của mình kếo theo một lượng lớn bệnh nhân tự mua thuốc điều trị làm ảnh hưởng tới việc xác định mô hình bệnh tật thực tế. Mô hình bệnh tật dựa trên gánh năng bệnh tật của công đồng Từ những năm đầu của thập kỷ 90, WHO và Ngân hàng thế giới đề xuất các phép đo lường mới, quan tâm tới đánh giá nặng bệnh tật của cộng đồng. Hiện nay tuy vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, nhưng đã sử dụng ở một số nước, đặc biệt các nước phát triển, có hệ thống quản lý sức khoẻ, bệnh tật tốt.
Gánh nặng bệnh tật được đo lường bởi các chỉ số: - DALY (Disbility Adjusted Life Years): Số năm cuộc sống điêu chỉnh theo mức độ tàn tật. - YLD (Years Lived with Disability): Số năm sống chung với bệnh tật. ~ YLL (Yeats of Life Lost): Số năm tiêm năng sống bị mất đi vì từ vong sớm. * DALY biểu thị số năm của cuộc sống bị mất đi do người bệnh bị từ vong và cả số năm sống frong tần tật.
Nếu không tính khấu hao tuổi và hệ số tỷ trọng tuổi, DALY có thể tính theo công thức: DALY = YLD +YLL *'YLD là số năm sống bị mang bệnh hoặc bị chấn thương và được tính theo công thức IxDW xL(I—-e?) YLD= 0,03 Trong đó: 1: Số trường hop mới mắc ở thời gian nghiên cứu. +: Số năm trung bình sống cùng tàn tật. e: hằng số bằng 2,71. DW: Hệ số tần tật.
DW có giới hạn từ 0 — 1 (0 là hoàn toàn khoẻ mạnh, 1 coi như chết). Khi bệnh càng nặng hệ số này càng lớn. DW xác định bằng hai phương pháp: Hoặc dựa vào bảng tra sẵn [109] hoặc dựa vào các định nghĩa vẻ mức độ mất khả năng. Theo Murray CJL và cộng sự, hệ số mất khả năng và bệnh tật chia làm ố mức, với DW từ 0,096 đến 0,920 [105].
Để tính YLD cần biết thời gian mang bệnh, mức trầm trọng của bệnh và loại bệnh mà phân ở các mức độ khác nhau. Mức trầm trọng của bệnh có thể tính một cách tương đối dựa trên cách xử trí. Mutray CỊL và cộng sự đã đưa ra một bảng tra hệ số tàn tật và thời gian mang bệnh dựa trên ba mức trầm trọng của bệnh [106]. Ginh nặng bệnh tật có thể tính theo YLD hiện mắc hoặc YLD mới mắc * YLL được tính theo công thức: YLL =gxy(—-e*") Trong đó: z¡ Kỳ vọng sống cụ thể theo tuổi lúc tử vong.
&: Hằng số bằng 2,71.